Hương Sen Xứ Nghệ

Hương Sen Xứ Nghệ Tỏa Ngát Đất Trời
Kính tiếc một bậc Thầy tài hoa

Kính tiếc một bậc Thầy tài hoa

Đăng lúc: 10:00 - 19/11/2016

“Thương mây thơ thẩn về đâu
Thương trăng hiu quạnh giữa bầu hư không...”.
Đó là hai câu đầu của bài thơ “Mười thương” do Hòa thượng cảm tác, mà người viết đã được nghe lần đầu cách đây hơn hai mươi năm trong một lần hầu chuyện cùng ngài. Hôm nay, bỗng dưng hay tin Hòa thượng đã vừa viên tịch tại tổ đình Tường Vân, thành phố Huế, một nỗi buồn dường như vô tận đã bất chợt hiện về trong ký ức cùng với hình ảnh của một bậc Thầy tài hoa...

Khoảng thập niên 1990, chúng tôi thường đến thiền viện Vạn Hạnh để nghiên cứu và sao chép tài liệu, nhờ vậy có được cơ duyên nhiều lần tiếp xúc với Hòa thượng tại thiền thất của ngài. Mỗi lần được hầu chuyện với ngài, tâm trí càng thêm sáng tỏ. Hòa thượng là một trong những bậc Thầy có những đức tính rất đặc biệt.

thay khaithien3.jpg
Trưởng lão HT.Thích Chơn Thiện, Phó Pháp chủ HĐCM,
Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN - Ảnh tư liệu ĐĐ.Hương Yên cung cấp

Nét chữ của sự cần mẫn...

Ấn tượng đầu tiên về Hòa thượng đó là khi ngài tặng cho chúng tôi bản thảo viết tay luận án tiến sĩ của ngài. Những ai có cơ duyên đọc bản luận án viết tay (bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt) có lẽ sẽ nhận ra ngay đức tính cần mẫn và kiên trì một cách rất đặc biệt nơi ngài. Trong các bản này, Hòa thượng đã tận tụy nghiên cứu, cẩn thận ghi chép tỉ mỉ những văn bản kinh điển cổ bằng tiếng Pali, đặc biệt là Kinh tạng Nikàya.

Sự ghi chép của Hòa thượng cẩn thận đến độ người đọc khó có thể tìm thấy bất kỳ một sự chỉnh sửa nào trong suốt hơn 300 trang viết tay đồng bộ. Nhưng đối với ngài, đấy là một công việc bình thường, cho dù lịch trình Phật sự có bận rộn như thế nào. Khi được hỏi tại sao Hòa thượng phải viết tay như thế, ngài tâm sự rằng, các luận án phải được thông qua trước khi được cho đánh máy.

Chính vì vậy, ngài rất hoan hỷ chép tay, và nhân tiện chép luôn bản dịch tiếng Việt do chính ngài dịch. Điều đáng nói ở đây là khi chiêm ngưỡng chữ viết tay của ngài, người chiêm ngưỡng nhận thấy nơi những nét chữ khiêm tốn và bình dị đó phảng phất đâu đấy một sự định tĩnh, nhất tâm, rất đẹp và rất vững chãi. Đó chính là cái ấn tượng ban đầu mà hầu như ở thời điểm đó (trước khi luận án được phát hành), các bậc cao tăng cũng như các giáo sư học giả nổi tiếng đương thời ai cũng khen ngợi và tán dương sự cần mẫn của ngài thông qua những nét chữ tuyệt vời.

Xiển dương tính nhất quán trong tư tưởng Phật học...

Trong những tác phẩm, dịch phẩm và những công trình nghiên cứu của Hòa thượng, đặc biệt là cuốn “Phật học khái luận”, đây một quyển sách giáo khoa Phật học quan trọng đã được liên tục tái bản trong suốt hơn 30 năm qua. Trong Lời giới thiệu quyển sách, cố Đại lão Hoà thượng Thích Thiện Siêu đã đánh giá như sau:

“Căn cứ trên các kinh Nikàya và A-hàm với một phần ý nghĩa rút ra từ kinh điển Bắc truyền, Thượng tọa đã trình bày Phật học một cách mạch lạc, rõ ràng, nhằm giới thiệu được nội dung cơ bản của Phật-học, đồng thời cũng gợi lên những đường hướng tư duy sâu sắc và đúng đắn để có thể phù hợp với nhiều đối tượng độc giả... Tôi nghĩ rằng cuốn Phật học khái luận này phản ảnh một quá trình tu học nghiêm túc, một niềm tin tưởng sâu đậm đối với Phật giáo và một tấm lòng tha thiết khuyến tu đối với hết thảy mọi người...”.

Đọc hết các chương về tư tưởng Phật giáo từ khởi nguyên đến phát triển, bạn đọc sẽ thấy rõ tâm huyết của ngài. Đấy chính là những nỗ lực vượt qua mọi dị biệt, xiển dương tính nhất quán trong tư tưởng kinh điển và mối liên hệ triết học giữa Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Phát triển. Khái niệm “Tiểu thừa” và “Đại thừa”, trong quan điểm của ngài chỉ là một cách diễn đạt về lịch sử phát triển mang tính cách lý thuyết.

Bạn đọc có thể nhận thấy điều này qua những giải thích, chứng minh của ngài về sự “nhất quán” giữa giáo lý “Năm uẩn là Vô ngã” của Phật giáo Nguyên thủy với giáo thuyết về “Tánh Không” của Đại thừa. Nhưng trên hết, đằng sau những phân tích và giải thuyết của ngài, bạn đọc có thể cảm nhận được ngay niềm khát vọng thống thiết nhất của con người, đấy chính là sự tìm cầu chân lý và hạnh phúc! Chính vì vậy, là một nhà Phật học tinh thông, trong quan điểm của ngài, dù ngôn ngữ hay cách tiếp cận có khác biệt nhưng nhu cầu về chân lý, về sự chứng ngộ chân lý, thì không hề khác biệt. Vấn đề là, tùy vào hoàn cảnh khác nhau mà Phật giáo cần phải có những uyển chuyển, thích ứng phù hợp.

thay khaithien1.jpg
Thủ bút của HT.Thích Chơn Thiện (ảnh do Quảng Điền chụp lại, di cảo do ĐĐ.Hương Yên cung cấp)

Bậc Thầy tinh thông cả Nam tạng và Bắc tạng...

Những ai đã một lần tham dự các thời pháp hay các buổi thuyết giảng của Hòa thượng sẽ ít nhiều cảm nhận được tấm lòng nhiệt huyết và từ tâm bao la của ngài. Khi trình bày một vấn đề, ngài thường đi rất sâu và đi sâu hơn những gì mong đợi của hàng thính giả. Sự trình bày của ngài, ngoài sự uyên bác, quảng học đa văn, các luận cứ luôn được dẫn chứng theo các nguyên tác, kinh điển. Nhờ vậy mà niềm tin của thính chúng được tăng trưởng. Có thể nói rằng, dù không phải là người trực tiếp phiên dịch, nhưng Hòa thượng là một trong những bậc cao tăng uyên thâm cả hai hệ thống Nam tạng và Bắc tạng.

Đọc các tác phẩm của ngài, người đọc thường có cơ duyên để lĩnh hội sự giao thoa tư tưởng của cả hai hệ thống kinh văn Phật giáo (Nam truyền và Bắc truyền) được trích dẫn và giới thiệu một cách rất đầy đủ. Đối với các thế hệ Tăng Ni sinh hậu học, tác phẩm của Hòa thượng là một nguồn cảm hứng thiêng liêng, là động lực mãnh liệt, khuyến tấn hàng hậu học mạnh dạn đi sâu hơn vào kho tàng tư tưởng Phật giáo, đặc biệt là tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy.

Và ở đó, chính trong kho tàng Nguyên thủy, hành giả sẽ có thể nghe được tiếng nói diệu âm của Đại thừa, cho dù thời đại có cách nhau 500 năm hay một ngàn năm. Đây quả thật là một nét đặc trưng hiếm có trong các tác phẩm nghiên cứu triết học Phật giáo trong thời đại của chúng ta.

Bây giờ bỗng dưng...

Sau bao năm tháng tận tụy làm Phật sự, ở tuổi 75, với ngài, thật sự không quá già, nhưng Hòa thượng đã trở về cõi vô tung bất diệt. Hàng hậu học ở lại, bồi hồi, ngậm ngùi kính nhớ Hòa thượng; nhớ lại những năm tháng trước đây, nhớ lại những lời dạy chân thành và giáo huấn cao thượng, nhớ lại những ánh sáng nội tại lóe lên từ mặt đất tinh khôi... Và bây giờ, bỗng dưng ngài đã trở về cảnh giới chân nguyên, nơi “sông vẫn là sông, núi vẫn là núi”.

Cúi đầu đảnh lễ Giác linh cố Trưởng lão Hòa thượng.

Kính mong ngài sớm trở lại cõi Ta-bà để hoằng hóa độ sinh.

Khải Thiên
(Tu viện Cát Trắng, Florida, Hoa Kỳ)

Xúc động khi chia sẻ về “Những thằng già nhớ mẹ”

Xúc động khi chia sẻ về “Những thằng già nhớ mẹ”

Đăng lúc: 05:33 - 19/09/2016

“Trong mắt của bà, tôi mãi là đứa con chưa trưởng thành. Dù các con tôi đã lớn, đã tốt nghiệp và đi làm, nhưng thằng cha chúng vẫn bị bà nội đưa vào diện cần quan tâm đặc biệt, ra ngoài vẫn bị nhắc nhở quên nón, mang theo áo mưa…” - đó là một đoạn trích trong tạp bút “Những thằng già nhớ mẹ” của tác giả Vũ Thế Thành vừa ra mắt độc giả chiều qua, 17-9, tại đường sách Nguyễn Văn Bình.
vuthethanh1.jpg
Tác giả Vũ Thế Thành (cầm micro), cùng khách mời - nhà văn Nguyễn Đông Thức,
bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và nhà thơ Đỗ Trung Quân - giao lưu cùng bạn đọc - Ảnh: Nhã An

Tác giả cho biết: “Tôi không phải là nhà văn, tôi có thể viết báo, viết về khoa học về các sự kiện chứ tôi không có khả năng hư cấu như các nhà văn, đám bạn xúi thì tôi viết, bài viết Những thằng già nhớ mẹ là bài tùy bút đầu tiên của tôi” sau khi mẹ mất”. Và sau bài viết đầu tiên cùng sự... xúi giục của bạn bè thì cuốn sách gồm 12 bài tạp bút đã ra mắt.

Những đứa con nhớ mẹ thì không có tuổi tác, nhưng tác giả muốn nhấn mạnh đến đối tượng 40, 50 tuổi “là tuổi đã chững chạc, lúc đó họ đang thành công trên đường đời, lúc đó công việc của họ rất nhiều, thời gian này là thời gian họ xù mẹ rất nhiều, tức là bận quá - hứa tuần sau về, rồi lại hứa…, về được vài ba phút rồi đi, tuổi này là tuổi nhận thức được”.

Đối với tác giả không hẳn càng già mới càng nhớ mẹ, “vì thương mẹ tiềm tàng trong con người mình rồi, chỉ có điều người ta già rồi thì người ta thấm đòn hơn”.

vuthethanh2.jpg
Ca sĩ Cẩm Vân hát ca khúc Lòng mẹ trong buổi giao lưu

Nói về cuốn sách, nhà văn Nguyễn Đông Thức chia sẻ trong buổi giao lưu “những bài viết của Vũ Thế Thành về mẹ làm cho tôi xúc động rất nhiều, bởi vì nó được viết từ trái tim, từ cảm xúc rất chân thật. Và anh cũng có một tâm trạng đặc biệt - rất giống tôi - khi mẹ mất thì mình không chấp nhận cái chết đó, mình không bao giờ nghĩ mẹ mình có thể mất và cái cảm giác đó ám ảnh mình trong thời gian rất lâu.

Những người con khi mẹ mình già lúc nào cũng mong mang cho bà thức ăn ngon, quần áo đẹp... nhưng mẹ đâu cần những thứ đó vì mẹ chỉ cần tình thương, sự quan tâm của con cái… Khi mẹ tôi mất đi, tôi mới được xem nhật ký của mẹ, mẹ tôi viết “sao mấy tuần nay thằng Thông (tên gọi của Nguyễn Đông Thức ở nhà - PV) không về thăm mình, tôi nhớ nó quá”, lúc đó tôi đã 50 tuổi” - nhà văn xúc động.

vuthethanh3.jpg
Tác giả Vũ Thế Thành ký tặng sách

Trong buổi giao lưu ra mắt sách, bạn đọc còn được giao lưu với nhà thơ Đỗ Trung Quân, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nghe những ca khúc về mẹ do ca sĩ Cẩm Vân, Đông Tùng, Thu Vàng trình bày.

Tạp bút Những thằng già nhớ mẹ của Vũ Thế Thành do NXB Hội Nhà văn ấn hành, đơn vị liên doanh là Công ty TNHH sách Phương Nam. Đa số các bài viết trong tuyển tập này được tác giả viết giữa hai mùa Vu lan 2011 (mẹ mất) và 2012.

“Có vài bài đang nói chuyện này, lại xen chuyện bà mẹ vào một chút. Bạn đọc nào may mắn còn mẹ xin được bỏ qua cho. Nỗi đau còn mới quá! Riêng với các bạn đã mất mẹ, xin lỗi, tôi… xả chấp” - tác giả chia sẻ trong lời đầu sách.

vuthethanh4.jpg
Sách “Những thằng già nhớ mẹ” - Ảnh: Nhã An

Vũ Thế Thành sinh ra lớn lên và làm việc tại Sài Gòn, hiện sống tại Đà Lạt. Với chuyên môn về Hóa học và Quản trị chất lượng. Tác giả viết báo cũng gần được 20 năm và cộng tác với các báo Tia sáng, Sài Gòn tiếp thị (cũ), Quán văn, khoahocnet.com…

Nhã An

Có phải tất cả Phật tử đều phải ăn chay trường?

Có phải tất cả Phật tử đều phải ăn chay trường?

Đăng lúc: 18:35 - 25/05/2016

Chủ đề ăn chay trường với người theo đạo Phật luôn là vấn đề được nhiều người quan tâm và còn gây nhiều tranh cãi. Vntinnhanh xin được giới thiệu đến bạn đọc bài phân tích của ông John Kahila, một cư sĩ người Mỹ, người sáng lập diễn đàn Phật giáo "talk.religion.buddhism" trên mạng Internet.



Tất cả các Phật Tử đều "ăn chay trường" có phải không? Không phải thế. Giới luật đầu tiên chỉ khuyên chúng ta kềm chế đừng sát sanh, nhưng ăn thịt không xem là sát sanh, và kinh Phật không cấm chúng ta ăn thịt (Ở đây, chủ yếu là chúng ta đề cập đến kinh điển Pali. Một số kinh Bắc Tông, nhất là Kinh Lăng Già- Lankavatara Sutra, lại hết sức ủng hộ thực hành việc ăn chay. Xin xem phần ghi chú ở cuối bài.)

Theo như ghi chép trong kinh tạng Pali, Ðức Phật không cấm sử dụng thịt, kể cả các vị tăng ni nữa. Thực vậy, Ngài đã dứt khoát bác bỏ lời đề nghị của Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) bắt buộc chư tăng ni phải "ăn chay trường".

Nơi các xã hội thuộc hệ phái Phật Giáo Nam Tông hiện nay, một vị tỳ kheo nào bám víu lấy việc ăn chay để gây uy tín nơi người khác là mình có tinh thần siêu nhiên vượt trội hơn người khác thì xem như vi phạm giới luật tu sĩ.

Mặt khác, Ðức Phật đã nghiêm cấm thẳng thừng việc sử dụng các loại thịt của bất kỳ con vật nào đã được mắt thấy, tai nghe và không nghi ngờ gì con vật đó được giết mổ rõ ràng là để thiết đãi các vị tăng ni ( Kinh Jivaka, Trung Bộ 55).

Giới luật này chỉ áp dụng cho các vị tăng ni mà thôi, nhưng cũng được xem như là một hướng dẫn hợp lý cho các cư sĩ sùng đạo.

Lật lại căn nguyên từ thời Phật Thích Ca

Ðể hiểu rõ cách tiếp cận "lý Trung đạo" này về việc ăn thịt, chúng ta cần phải nhớ là vào thời Phật Thích Ca chưa có các "Phật tử". Lúc đó, chỉ có các khất sĩ chia thành nhiều loại khác nhau (kể các môn đệ của Ðức Phật), cộng với những người cư sĩ là những người bố thí cúng dường mà không quan tâm đến nhãn hiệu của các loại giáo lý.

Nếu người chủ nhà cố ý chọn thịt là thực phẩm để bố thí, thì các vị khất sĩ đó cũng phải nhận, không được phân biệt hay tỏ vẻ không hài lòng gì cả. Từ bỏ của bố thí như vậy có thể xúc phạm đến lòng mến khách và có thể làm mất đi cơ hội cho người chủ nhà được tạo phước -- và cũng không mang lại lợi ích gì cho con vật vì nó đã chết.



Ngay cả những người Kỳ-na giáo có lẽ cũng đã có cùng một quan điểm tương tự như vậy ở cùng một thời kỳ lịch sử, mặc dù giáo lý Vô hại (Ahimsa) rất nghiêm khắc. Ăn chay không phải là nguồn gốc những bất đồng nghiêm trọng trong Tăng đoàn (Sangha), cho đến khi có xuất hiện các cộng đồng tu sĩ trú ngụ tại những nơi cố định và họ không còn thực hiện việc đi khất thực trì bình.

Tại các cộng đồng đó, bất kỳ loại thịt nào do các Phật tử mang cúng cho Tăng Ni, rất có thể là từ thú vật bị giết đặc biệt cho mục đích đó. Ðó là một lý do của sự khác biệt trong quan điểm giữa hai phái Bắc Tông và Nam Tông về việc ăn thịt - sự phát triển của các cộng đồng tu sĩ thường trú tại một nơi cố định, chính yếu xảy ra trong Bắc Tông.

Vấn đề đạo đức xoay quanh việc ăn thịt

Vấn đề ăn thịt đưa đến các câu hỏi khó khăn về đạo đức. Có phải chăng thịt bày bán ở các siêu thị và các nhà hàng được giết mổ "nhằm" phục vụ chúng ta? Có phải chăng ăn thịt là gián tiếp giết hại? Rất ít người trong chúng ta có đủ tư cách để phán quyết những người ăn thịt hoặc bất kỳ người nào khác vì tội "ủy nhiệm sát sanh" (killing by proxy).

Bởi vì chúng ta đang dự phần trong nền kinh tế toàn cầu, và điều này đưa đến "ủy nhiệm sát sinh" trong mọi tác động tiêu thụ của chúng ta. Ðiện khí chúng ta dùng để chạy máy vi tính là bắt nguồn từ những phương tiện đang làm hủy hoại môi trường. Những cuốn sách về kinh điển Phật được in trên giấy do một công nghệ đang phá hủy môi trường sống của thú rừng. Sâu bọ, côn trùng, các loài gậm nhấm và nhiều động vật khác đã bị giết một cách đều đặn hàng loạt trong quá trình sản xuất những nguyên liệu cho các loại thực phẩm chay.

Xin chào đón vào cõi Ta-bà! Ðối với đa số trong chúng ta, thật không thể nào thoát ra ngoài khỏi mạng lưới này. Chúng ta chỉ có thể cố gắng có ý thức về những vướng mắc này mà thôi. Chỉ có một cách thực hiện điều này, đó là suy gẫm về sự đau khổ và chết chóc của các sinh vật đang phải cống hiến cho các tiện nghi của chúng ta.

Ðiều đó có thể giúp chúng ta bớt thiên về sự tiêu thụ lãng phí đơn thuần do lòng tham lam thúc đẩy. Ngoài tất cả những gì đã được nói ở trên, một điều không thể chối cãi được là cỗ máy kinh tế sản xuất ra thịt cũng đã gây ra biết bao nhiêu sợ hãi và đau khổ cho một số lớn các súc vật. Thật ích lợi biết bao nếu ta ghi nhớ điều đó ngay cả khi chúng ta sử dụng thịt, để chống lại sự phát triển của tánh lãnh đạm, chai lì trong tâm chúng ta.

Nhiều Phật Tử (đặc biệt những người theo phái Bắc tông) hành trì "ăn chay trường" như là một phương thế để vun bồi lòng bi mẫn. Kinh Jivaka có gợi ý chúng ta có thể thực hành "ăn chay" bắt đầu bằng một trong bốn tâm vô lượng (từ, bi, hỷ, xã). Một điều đáng chú ý là lòng từ ái, không phải lòng bi mẫn, đã được đề cập đến trước tiên trong kinh Jivaka đó. Nếu bạn đang quan tâm thực tập "ăn chay" lần đầu tiên, chúng tôi đề nghị bạn hãy bàn thảo với một vài người đã có kinh nghiệm trong lãnh vực này. Có nhiều vấn đề cần phải được xem xét, liên quan đến sự cân bằng trong dinh dưỡng, v.v...

Ghi chú: Kinh Lăng Già- Lankavatara Sutra, mặc dù đã ghi lại những lời dạy của Ðức Phật tại đảo Lanka (Sri Lanka), chủ yếu là một tác phẩm thuộc giai đoạn phát triển trường phái Bắc Tông sau này.

Theo giáo sư H. Nakamura ("Indian Buddhism", 1987), có nhiều phiên bản của bộ kinh này, và nội dung các phiên bản có phần khác nhau. Ða số các học giả đều kết luận rằng có lẽ kinh này được biên soạn vào những năm 350-400 Tây lịch.

Thêm vào đó, theo nhà thiền sư nổi tiếng của Thiền tông Nhật bản, ông D.T. Suzuki (trong cuốn "The Lankavatara Sutra - A Mahayana Text", 1931), chương đề cập đến "Ăn Thịt" trong bản kinh có lẽ mới được thêm vào về sau này trong các phiên bản kế tiếp. Ông cũng đồng ý rằng bộ kinh này không phải là những lời do chính Ðức Phật nói ra, nhưng được biên soạn về sau bởi các tác giả vô danh, dựa theo triết lý Bắc Tông.

Theo John Kahila/ Tỳ kheo Thiện Minh dịch

Chung tay dẹp nạn giả sư khất thực, ăn xin

Chung tay dẹp nạn giả sư khất thực, ăn xin

Đăng lúc: 18:41 - 16/04/2016

Từ đầu tháng 3-2016, việc dẹp nạn ăn xin, giả sư khất thực phi pháp lại được đặt ra. Sở Lao động-Thương binh & Xã hội (LĐ-TB & XH) TP.HCM cùng 24 quận, huyện TP.HCM một lần nữa đã cùng họp bàn, đưa ra các biện pháp giải quyết tình trạng người ăn xin, giả sư khất thực phi pháp tràn lan lâu nay.
Sau buổi họp, các quận huyện, phường xã đã ra quân bắt đầu tổng rà soát, xử lý người ăn xin, giả sư khất thực trên địa bàn TP.HCM. Theo ghi nhận của phóng viên, trên một số tuyến đường trung tâm của TP, các đối tượng này xuất hiện ít hơn so với trước đây.

sugia.jpeg
Theo quan sát của PV Giác Ngộ cũng như phản ánh của bạn đọc, cho đến nay
sau các cuộc điện thoại thông tin về tình trạng giả sư khất thực đến đường dây nóng,
chưa thấy trường hợp nào được giải quyết - Ảnh: Hoàng Triều

Đường dây nóng “24/24”

Để có thể tiếp nhận thông tin từ người dân, Sở LĐ-TB&XH TP.HCM đã thiết lập 3 đường dây nóng, gồm: 0903.959.929 (do ông Lê Chu Giang - Trưởng phòng Bảo trợ xã hội - trực tiếp trả lời), (08) 38.292.491 và (08) 35.533.258 nhằm tiếp nhận tin báo về người ăn xin, giả sư khất thực trên địa bàn TP.HCM 24/24. Bên cạnh đó, Sở cũng đề xuất chi 200.000 đồng động viên người dân báo tin và giúp địa phương tập trung các đối tượng ăn xin, giả sư khất thực.

Để xác minh lại đường dây “nóng” có thực sự “nóng” hay không, phóng viên Giác Ngộ trong vai người dân theo chân các đối tượng ăn xin giả sư khất thực trên nhiều tuyến đường TP.HCM như: 3-2 (Q.10), Huỳnh Tấn Phát (Q.7), Âu Cơ (Q.Tân Bình)... Khi phát hiện các đối tượng này, phóng viên lập tức liên hệ tới đường dây “nóng” của Sở, đều được nhân viên bắt máy, giọng nhỏ nhẹ: “đường dây nóng xin nghe”, và tiếp nhận những thông tin cũng như địa điểm mà phóng viên báo có những người ăn xin, giả sư khất thực đang hoạt động. Sau khi báo đường dây “nóng”, phóng viên tiếp tục chờ đợi “Sở” cho người xuống xử lý, tuy nhiên chờ mãi vẫn không thấy bóng dáng những người có trách nhiệm xuất hiện. Các đối tượng vẫn ung dung khất thực rồi mất hút sau đó.

Theo ông Lê Chu Giang, hiện vẫn còn nhiều khó khăn trong việc thu gom các đối tượng ăn xin, giả sư khất thực. Ông cho biết, khi nhận được thông tin qua đường dây nóng, lực lượng chức năng tới nơi thì các đối tượng đã bỏ đi, hoặc thấy bóng dáng của lực lượng quản lý họ liền lập tức trốn chạy.

Trước đó, ngày 17-2, tại buổi làm việc với Đảng bộ Công an TP.HCM, Bí thư Thành ủy TP.HCM Đinh La Thăng đã chỉ đạo gắn camera, yêu cầu quản lý người ăn xin ở khu vực trung tâm. Đây là chính sách được nhiều người dân ủng hộ. Tuy nhiên, việc này được thực hiện như thế nào, hiệu quả ra sao vẫn còn là một câu hỏi cần sớm được trả lời.

Tiếp nhận và xử lý thông tin

Bên cạnh việc tiếp nhận thông tin, điều khiến nhiều người dân quan tâm chính là quy trình xử lý của Sở LĐ-TB&XH TP.HCM đối với nguồn thông tin mà người dân cung cấp cho đường dây nóng.

Về phía Phật giáo, GHPGVN TP.HCM đã ra thông báo tạm ngưng việc khất thực và không cấp bất kỳ giấy giới thiệu nào cho các nhà sư đi khất thực. Hiện, những người khất thực trên đường phần lớn là sư giả, nên địa phương có thể dễ dàng xử lý.

Về phía chính quyền, Sở LĐ-TB&XH TP.HCM đã đề nghị các quận huyện sau khi tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân từ đường dây nóng phải lập tức chuyển tin báo về địa điểm xuất hiện các đối tượng đến các đơn vị phụ trách tại quận, huyện, phường - xã để kịp thời giải quyết. Những người có trách nhiệm tại các đơn vị sẽ mời các đối tượng này về trụ sở lập biên bản để có cơ sở xử lý. Đối với người đau yếu, bệnh tật ở ngoài đường, địa phương sẽ đưa đi chữa trị, hết bệnh sẽ cho tiền về quê.

Bài toán khó lúc này là cần phải có lộ trình và thời gian, cần phải có sự phối hợp xuyên suốt, quyết tâm cao giữa ban ngành các cấp chứ không thể ngày một, ngày hai có thể giải quyết, xóa bỏ hẳn tình trạng người ăn xin, cũng như những đối tượng giả sư khất thực, bán vé số, tăm bông để xin ăn trên địa bàn TP.

Bao giờ mới giải quyết được “nạn” giả sư khất thực, ăn xin?

Sau cuộc họp giao ban giữa các ban ngành của TP.HCM đầu tháng 3, Bí thư Thành ủy Đinh La Thăng chỉ đạo các cơ quan chức năng liên quan đã và đang tiến hành thực hiện quyết tâm kéo giảm vấn nạn ăn xin, giả sư khất thực trên địa bàn trung tâm TP, nhất là trong dịp cao điểm của các ngày lễ lớn, trong đó có ngày 30-4 sắp tới.

Để có thêm thông tin giải quyết nạn giả sư khất thực, xin ăn, Sở LĐ-TB&XH TP.HCM đã thiết lập đường dây nóng 24/24. Một trong 3 đường dây nóng như đã nói ở trên do ông Lê Chu Giang, Trưởng phòng Bảo trợ xã hội thuộc Sở LĐ-TB&XH TP.HCM trực tiếp tiếp nhận; ông Giang cho biết, riêng số máy này, mỗi ngày trung bình tiếp nhận 15 cuộc gọi phản ánh của người dân.

Ông Giang cũng cho biết thêm, trong thời gian qua, Trung tâm Hỗ trợ xã hội đã tiếp nhận 2.285 trường hợp ăn xin, giả sư khất thực và cơ quan chức năng đã giải quyết cho 1.866 người được hồi gia. Theo đơn vị này, giải quyết vấn nạn ăn xin, giả sư khất thực gặp khó khăn bởi quy định thời gian thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng họ tại trung tâm bảo trợ không quá 3 tháng.

Ông Giang cho rằng nguyên nhân ăn xin cứ như nấm mọc sau mưa là do “công việc nhẹ, thu nhập cao”. Chưa kể, TP.HCM là nơi có nền kinh tế phát triển, người dân sống có nghĩa tình, hay giúp đỡ, cho tiền bạc nên điều này ít nhiều cũng tạo điều kiện để người ăn xin ở các tỉnh khác tìm đến nhiều hơn. Do đó, cần có sự chung tay của toàn xã hội trong việc hỗ trợ cũng như tuyên truyền ý thức cho người dân không nên cho “tiền” khi thấy những người ăn xin, giả sư khất thực, có như vậy vấn nạn này mới có thể sớm được giải quyết.

Vũ Giang

Myanmar: Ngôi Danh lam Cổ tự Kuthodaw có cuốn sách đá lớn nhất thế giới

Myanmar: Ngôi Danh lam Cổ tự Kuthodaw có cuốn sách đá lớn nhất thế giới

Đăng lúc: 09:18 - 01/11/2015

Hiện nay, cuốn sách khổng lồ lớn nhất thế giới này cùng các bản khắc trên đá đã trở thành một báu vật quốc gia của Myanmar, và một phần quý giá của di sản văn hóa Phật giáo trên thế giới.

Ngôi Danh lam Cổ tự Kuthodaw nằm ở chân núi Mandalay, Myanmar và được xây dựng vào thời vua Mindon Min (1808- 1878).

Điểm độc đáo của ngôi Cổ tự này thu hút hấp dẫn du khách hành hương chính là cuốn sách đá lớn nhất thế giới. Cuốn sách gồm 1460 trang, tạo thành từ những viên đá nhìn giống như hang động nhỏ. Mỗi viên đá dày 13 cm, cao 153 cm và rộng 107 cm.

Với danh hiệu ngôi Cổ tự Kuthodaw nghĩa là chùa Hoàng gia, và chính thức mang tên Mahalawka Marazein. Trong khuôn viên của chùa có khu vườn Tháp thờ Pháp bảo, trong mỗi Tháp có một phiến đá cẩm thạch được khắc ghi trên cả hai mặt với một trang Kinh Phật giáo có chứa đầy đủ bộ Tam tạng Pali của Phật giáo Nguyên Thủy.

Ngôi Danh lam Cổ tự được xây dựng như một phần của hoàng cung Mandalay từ năm 1857. Vua Mindon Min, lo lắng trước sự xâm lăng của người Anh cả về lãnh thổ lẫn tôn giáo đã quyết định để lại một công trình hoàng gia để truyền bá Phật giáo: một bộ kinh Tam Tạng tiếng Pali khắc trên đá.

Công việc ghi chép lại kinh Phật trên mặt đá hoàn toàn không đơn giản và phải mất tới ba ngày để một người thợ khắc kín hai mặt của một tấm biển. Sau khi khắc chữ lên bề mặt đá, các rãnh chữ được đổ khuôn vàng. Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài và nhiều lần phục chế, nhiều chữ vàng đã không còn, chỉ còn lớp muội đen hay những vệt khắc đá.

Công trình Văn hóa Phật giáo vĩ đại này bắt đầu xây dựng vào khoảng năm 1860 và gắn vương miện chóp Bảo tháp vào ngày 19/07/1862, Công trình văn hóa Phật giáo, các bi ký ghi chép Tam tạng kinh Pali được ra mắt công chúng vào ngày 04/05/1868.

Tuy nhiên mãi đến năm 2013, ngôi Danh lam Cổ tự Maha Lawkamarazein hay Kuthodaw mới được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Hiện nay, cuốn sách khổng lồ lớn nhất thế giới này cùng các bản khắc trên đá đã trở thành một báu vật quốc gia của Myanmar, và một phần quý giá của di sản văn hóa Phật giáo trên thế giới.

** Chùm ảnh ngôi Danh lam Cổ tự Maha Lawkamarazein (Kuthodaw), trân trọng kính mời quý bạn đọc cùng chia sẻ với Myanmar Phật giáo Quốc đạo:

____ Thích Vân Phong ____

10 điều không cầu khi đi chùa lễ Phật

10 điều không cầu khi đi chùa lễ Phật

Đăng lúc: 09:16 - 01/11/2015

Khi đến chùa bạn hãy nhớ những điều dưới đây không được nghĩ tới và cũng không được cầu khẩn mong muốn thành hiện thực nhé, những điều này là không nên.


Một là đừng cầu thân thể không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì lòng tham sẽ dễ sinh. Muốn lấy thuốc lành trị bệnh khổ, thì nên thực hành giác ngộ giải thoát khỏi thế giới Ta-bà này.

Hai là đừng cầu không khó khăn, vì có có khăn thì đạo tâm mới kiên cường.
Bước qua được khó khăn thì con đường càng lớn, mỗi lần vượt qua trở ngại thì bầu trời càng cao rộng hơn.

Ba là đừng cầu tâm không khúc mắc, vì tâm không khúc mắc thì ngạo mạn dễ sanh.
Vườn tâm thường nhổ cỏ phiền não, vô minh trở thành vô lượng ánh sáng quang minh.


Bốn là không cầu lợi về mình, chấp trước vào mình dễ sinh vào ba cõi xấu.
Nguyện chịu bệnh khổ thế chúng sinh, khiến họ đều được thân tâm an lạc.

Năm là đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng tôi luyện thì sao thành Phật.
Ma là bạn tốt của người tu hành, người đức cao tự hàng phục được các loại ma.

Sáu là không cầu làm việc mong dễ thành công vì người ở trong cảnh thuận lợi khó tu hành.
Nghịch cảnh thuận cảnh không phân biệt, việc thành việc bại đều như nhau.

Bảy là không cầu danh lợi, tham muốn danh lợi dễ đọa vào luân hồi.
Luôn nhớ danh lợi như giấc mộng hão huyền, cam nguyện âm thầm làm người cống hiến.

Tám là làm ơn không cầu mong báo đáp, vì muốn người báo đáp thì con đường làm ơn đã sai lệch.
Tùy duyên dứt nghiệp đoạn sanh tử, không nợ không thiếu sống an nhàn.

Chín là oan ức không cầu biện bạch, nhẫn nhục chịu đựng trả món nợ xưa.
Người khác đánh đập mắng chửi là trợ hạnh cho mình, quên hết ân sủng hay bị làm nhục thì công đức mới vẹn toàn.

Mười là không cầu người khác giúp mình, tự lực cánh sinh không nên phan duyên.
Khi có điều mong cầu thì lúc đó có khổ, lúc không có gì để mong cầu thì được tự do tự tại.

Bạch Mã Cổ Tự ngôi Già lam đầu tiên Phật giáo Trung Quốc

Bạch Mã Cổ Tự ngôi Già lam đầu tiên Phật giáo Trung Quốc

Đăng lúc: 06:49 - 29/07/2015

Ngôi Thánh địa Già lam Bạch Mã, ngôi chùa cổ xưa nhất ở Trung Quốc, tọa lạc khoảng 6 dặm Anh, cách Thành phố Lạc Dương, thuộc tỉnh Hà Nam, miền Đông Trung Quốc.
Ngôi Già lam Bạch Mã Cổ Tự được sáng lập từ thời Minh Đế của triều đại Đông Hán (từ năm 29 sau Công Nguyên đến năm 75 sau Công Nguyên), gắn liền với truyền thuyết thần kỳ về sự kiến tạo thuở sơ khai.
Theo sử Trung Hoa ghi chép, vào thời Đông Hán, niên hiệu Vĩnh Bình, Hán Minh Đế nằm mộng thấy một cảnh sơn xuyên tú lệ, vân thủy hữu tình và có một Thần nhân lấp lánh hoàng kim quang lâm cung điện. Khi tỉnh mộng, Hán Minh Đế triệu tập các quan cận thần đến để chia sẻ về giấc mơ của mình. Đại thần Phó nghị tâu rằng: “Muôn tâu Bệ Hạ! Vào ngày 08 tháng 04 năm thứ 24 thời Chu Chiêu Vương (971 trước Công nguyên) triều đại nhà Chu, tam thiên đại thiên thế giới đều chấn động. Ban đêm có những ánh hào quang ngũ sắc chiếu khắp trời Tây”.

Vị Thái sử họ Tô suy đoán rằng: “Đây là dấu hiệu của sự Đản sinh của một vị Đại Thánh ở Thiên Trúc. Vị Thánh nhân này lâm phàm để cứu khổ chúng sinh. Giáo pháp của Ngài sau một nghìn năm thì có thể bén rễ vào đất Trung thổ này. Giờ đây đã đến thời kỳ tiếp nhận ánh sáng đó. Hạ thần nghe nói có một vị Thánh ở Tây Vức, được thế gian tôn sùng kính ngưỡng tôn xưng là “Phật Thế tôn” mà Bệ hạ nằm mơ thấy”.
Trăm nghe không bằng mắt thấy, Hán Minh Đế chiếu chỉ cho một phái đoàn 12 người sang tận Tây Vức để tìm Phật Thế tôn để cầu Chính pháp Như Lai.
Đoàn 12 người đã trãi quan bao gian khó hiểm nguy, cuối cùng đến quốc gia Đại Nguyệt Thị (Tai Yueshi), vùng Tây Vức, nơi Phật Pháp hưng thịnh, giáo lý Phật đà được phổ cập từ Thành thị đến nông thôn, Vua quan cho đến thứ dân điều mộ đạo tu hiền, cơ sở tự viện Phật giáo có mặt khắp nơi. Đoàn người đã đảnh lễ và cung thỉnh hai vị Thánh tăng Thiên Trúc, Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan về Trung Nguyên (Trung Hoa), đoàn mang về một số Kinh và tượng Phật. Năm thứ 10, niên hiệu Vĩnh Bình, triều Hán Minh Đế (67 sau Công nguyên), đoàn 12 người mới quay trở về Lạc Dương, Kinh đô của triều đại Đông Hán.
Hán Minh Đế vui mừng khôn xiết, thỉnh nhị vị Thánh Tăng vào cung thỉnh vấn, và sau đó đưa nhị vị Thánh Tăng nhập Già lam Tịnh địa Hồng Lô Tự, một Dinh thự quan chức của Bộ Ngoại Giao, và chiếu chỉ cho nhị vị Thánh Tăng dịch những các bộ kinh Tứ Thập Nhị Chương, Thập Ðịa Ðoạn Kết, Phật Bổn Sanh, Pháp hải Tạng, Phật Bổn Hạnh. . .
Ca Diếp Ma đằng và Trúc Pháp Lan, Nhị vị Thánh Tăng đã dịch kinh và hoằng truyền Chính pháp Như Lai tại Bạch Mã Tự. Những bản kinh của nhị vị Thánh Tăng dịch từ Phạn sang Hán được sự trân quý và luôn cất giữ trong Đại Điện để chư Tăng và Phật tử Lễ bái Tôn thờ Pháp bảo.
Đến thời Đại Đường, Nữ hoàng Võ Tắc Thiên, Trung Hoa Phật giáo Quốc đạo, ngôi Già lam Tịnh địa Bạch Mã Cổ tự cực thịnh, chư Tăng có hơn một nghìn.
Vào thời nổi loạn của An Sử (755-763), Phật giáo bị pháp nạn, ngôi Già lam Tịnh địa Bạch Mã Cổ tự bị pháp hoại trầm trọng.
Đến thời Hội Xương (840-846) tru diệt Phật giáo, ngôi Già lam Tịnh địa Bạch Mã Cổ tự chỉ còn tàn tích lưu lại với những mảnh đá vỡ khắc chữ.
Thời Tống Thái Tông (939 -997), Vua Gia Tĩnh nhà Minh (1507- 1567) và vua Khang Hy nhà Thanh (1662-1722) cũng đã liên tục việc trùng tu kiến thiết ngôi Già lam Tịnh địa Bạch Mã Cổ tự được nguy nga tráng lệ cho đến nay.
Ngôi Già lam Tịnh địa Bạch Mã Cổ tự đã được 1.943 tuổi, ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Trung Quốc, và được xem là “Cái nôi của Phật giáo” của Phật giáo Trung Quốc.
Chùm ảnh Ngôi Già lam Tịnh địa Bạch Mã Cổ tự, ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Trung Quốc, và được xem là “Cái nôi của Phật giáo” của Phật giáo Trung Quốc, trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc cùng vòng quanh thưởng lãm:


































































































































































































































































































Thích Vân Phong

Nghieng minh truoc vi Bo Tat

Nghiêng mình trước vị Bồ Tát giữa đời thường

Đăng lúc: 07:31 - 07/06/2015

Quyết định bãi nại cho tài xế vụ đâm chết 5 người thân của bà Huỳnh Thị Cẩn khiến chúng ta nghiêng mình cảm phục.


Một tai nạn giao thông vào sáng sớm ngày 31/5 tại TP HCM khiến cả nước bàng hoàng và đau xót, 5 nạn nhân đều là thành viên trong một gia đình. Họ đang trên đường đi lễ chùa và làm từ thiện.

Làm sao kể hết nỗi đau của bà Huỳnh Thị Cẩn, chỉ trong chốc lát, bà mất chồng và hai vợ chồng người con gái. Một đại gia đình tan nát, hai đứa cháu ngoại bơ vơ ở nước ngoài, vẫn hàng ngày ngóng trông cha mẹ.

Thế mà người đàn bà ấy đã mở rộng tấm lòng trời biển bao la như một vị Bồ Tát. Bà cho biết, sau đám tang các thành viên trong gia đình, bà sẽ đến thăm gia đình người tài xế gây tai nạn và làm đơn bãi nại cho người này.

Thật là một quyết định ít ai ngờ được. Thật là một điều thiện lành rất ít người làm được nếu ở trong hoàn cảnh của bà. Bà Cẩn bảo: “Sống chết có số nên tôi không oán trách ai. Tôi không giận người lái xe gây tai nạn mà ngược lại còn lo cho ông ấy nữa. Ông ấy cũng có gia đình, có vợ con. Ông vướng vào vòng lao lý thì gia đình ông sẽ ra sao?”

Chao ôi, đó là một trái tim Bồ tát. Đó là một bức chân dung đẹp nhất mà chúng ta có thể vẽ về một con người. Mọi sáo ngữ đều trở nên vô nghĩa trước người đàn bà có tấm lòng cao cả ấy.

Bà Huỳnh Thị Cẩn đã đem đến cho xã hội một bài học đạo đức vô giá, bài học bằng xương bằng thịt mà không sách vở nào truyền tải nổi. Rằng mọi sự trên đời, đều có thể hóa giải bằng tình thương.

Không biết đọc tin này, những tài xế đã từng gây tai nạn rồi bỏ mặc nạn nhân cho đến chết, những tài xế khi gây tai nạn đã nhẫn tâm tới mức cán thêm cho chết nạn nhân để đền một lần cho rảnh nợ, họ có thấy ăn năn?

Họ có thấy những hành động của mình là tàn ác, vô nhân, dã man, mông muội, không xứng đáng với cái danh xưng “con người” mà họ đang mang? Cùng là đồng loại, cùng da cùng thịt, cùng dòng máu đào, sao không biết xót thương nhau?

Với những con người như bà Huỳnh Thị Cẩn, chúng ta tự hào biết bao nhiêu về hai chữ “con người”. Bởi bà đã vượt lên trên nỗi đau xé lòng của bản thân, để đau cho nỗi đau của gia đình người gây nên tội.

Cuộc sống sẽ đẹp hơn nếu ngày càng có nhiều người biết gieo những hạt mầm thiện. Cây phúc mà bà Cẩn đã trồng hôm nay, hai đứa cháu mồ côi đáng thương của bà rồi sẽ được thụ hưởng, sẽ được cuộc đời đền đáp.

Mong hai cháu hãy cố gắng lớn lên, thành người tốt để xứng đáng với tấm lòng vị tha của bà mình, xứng đáng với cha mẹ đã khuất của mình.

Cuộc đời này vẫn còn nhiều điều tốt đẹp lắm thưa bạn đọc. Trong hằng hà sa số những người bình dị trong xã hội, vẫn có những vị Bồ Tát như bà Cẩn. Họ là ngọn nến soi đường mỗi khi chúng ta thấy tuyệt vọng vì sự xuống cấp của đạo đức, sự sa sút của luân thường đạo lý. Họ là ánh mặt trời để sưởi ấm trái tim của chúng ta, trong một cuộc sống đang ngày càng cạn kiệt tình người.

Những kẻ đang ngày ngày bất chấp tất cả, đang dùng mọi thủ đoạn để có một cuộc sống với tiền tài địa vị hơn người, không hiểu có thấy chùn tay khi đứng trước một vị Bồ Tát như bà Cẩn?

Tôi chợt thấy thương hại cho những người như vậy. Nghĩ mà xem, trước khi rời bỏ thế giới này, họ sẽ để lại gì cho dương thế? Một đống của cải vô tri vô giác, một danh sách dài những tội lỗi đáng phỉ nhổ?

Một việc thiện bà Huỳnh Thị Cẩn làm hôm nay, tiếng thơm sẽ để lại muôn đời, hạt mầm tốt lành ấy mới là vô giá. Nó cho xã hội chúng ta niềm tin, rằng những người tốt ở đời còn nhiều lắm, hãy tự tin mà nắm lấy tay nhau.

Và chính họ, chứ không phải ai khác, mới là nguồn cảm hứng, là người duy trì màu xanh cho đời sống này.

 
Hạnh nguyện cấp cô độc
Gia đình vườn tuệ
Tin xem nhiều
Thống kê
  • Đang truy cập 13
  • Hôm nay 3,091
  • Tháng hiện tại 147,854
  • Tổng lượt truy cập 19,955,351