Hương Sen Xứ Nghệ

Hương Sen Xứ Nghệ Tỏa Ngát Đất Trời
Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật

Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật

Đăng lúc: 20:48 - 08/01/2018

Ta Cứ Tưởng Trần Gian Là Cõi Thật. Thế Cho Nên Tất Bật Ðến Bây Giờ!. Ta Cứ Ngỡ Xuống Trần Chỉ Một Chốc. Nào Ngờ Ðâu..............

Chay & mặn

Chay & mặn

Đăng lúc: 06:18 - 13/04/2016

Vợ tôi nói: Hôm nay mùng một, em nấu vài món chay thật ngon, anh có thể mời bạn về dùng bữa cho vui. Tôi cười khi nghĩ rằng hôm nay vợ tôi thật “biết điều”.

Bữa cơm dọn ra, người bạn chặc lưỡi khen ngon. Vợ tôi bẽn lẽn đỏ bừng mặt, món gà rán đó anh!

Mô Phật! Gà rán cũng… chay! Thật ra nguyên liệu cũng chỉ là măng tre trộn đậu hủ rán pha chút muối đường rồi bỏ vào dầu sôi mà lật qua lật lại đến chín vàng!

Thế là cuộc tranh luận không đặt ra lại tuôn ào đến ngay trong bữa cơm đúng ngày mùng một!

anh chayman.jpg

“Mùng một ăn chay”, từ câu dặn dò nay đã trở thành thói quen hiện thực của người Phật tử. Một thói quen của người Phật tử mà ngay tôi lại là một đoàn sinh “lão làng” của Gia đình Phật tử (GĐPT) thì càng tuân thủ hơn. Ở đây, xin miễn bàn về vấn đề trì niệm hay giới niệm hoặc Tam bảo - ngũ giới. Phật đã dạy y cứ tâm mà tu, hà cớ gì phải y cứ cái thân mà tu?

Bạn tôi, “cái ngữ” ấy na ná tôi là Phật tử chân chính, tháng ăn chay tới bốn ngày mà ngày nào cũng vậy, giỏi lắm là rau muống luộc chấm chút tương chao. Thật ra chẳng muốn tranh luận làm gì. Phật giáo Đại thừa ở Nhật Bổn, Tây Tạng một số phái cũng ăn uống bình thường, Phật giáo hệ phái Theravada cũng không ăn chay, thậm chí ngay ở đây cũng có người bảo ăn trứng gà công nghiệp “không trống” cũng là… ăn chay!

Miễn là, đừng mượn dao giết người. Có người muốn ăn thịt mà không dám cắt cổ gà đành đem chiêu ác khẩu xui khiến người khác “mần” giùm! Cái tội này gánh gấp trăm ngàn lần kẻ khác, y như đã là đoàn sinh GĐPT lại sắm cần đi câu cá về nhà làm bữa. Hỏi tại sao thì bảo “cho vui”! Cái “cho vui” sao cay đắng ác nghiệt thế kia! Cái mắt cứ thèm nhìn, cái khẩu cứ thèm ăn và tâm cứ thế tham lam bám víu.

Thế mà lại nay, ăn món chay mà bụng cứ nghĩ tới thịt cá, tới gà rán. Tôi có cứng nhắc không? Biết vậy thôi, tôi chỉ cần nói nhỏ với vợ rằng: Em cứ chiên xào hủ tiếu với đậu hủ rồi rắc lên bột “Aji ngon Moto” như trên ti-vi quảng cáo là nghe mùi vị ngọt thịt ngay cần gì gọi là gà rán! Không khéo, ăn không giống rồi nghe phàn nàn mà thấy giống quá thì… ăn gà rán thật có tốt hơn không? Cớ sao lại thích để con mắt đánh lừa mình rồi dắt dẫn mình vào con đường vi phạm ngũ giới, trong khi ăn chay chỉ cho lòng nhẹ nhàng không còn ý nghĩ sát sanh.

HT.Thích Thiện Hoa đã định nghĩa: “Ăn chay, hay ăn lạt, nghĩa là ăn những loài thảo mộc: hoa quả, rau cải, không ăn những món ăn thuộc loài động vật như thịt, cá, tôm, cua, sò, ốc những vật hữu tình, biết tham sống sợ chết như người” theo những gì đã biết trong giờ tu học Phật pháp của GĐPT.

“Cái ngữ” quay sang tôi một tràng thao thao bất tuyệt: Thì cứ bí luộc, xì dầu, gạo thơm dẻo vẫn ngon như thường nhất là khi bụng đói queo, cớ chi thịnh soạn bày biện bên ngoài cho đẹp vừa con mắt, bắt cái thọ đè cái tâm, bắt cái xúc đè cái ý... khiến cái khẩu lung tung nịnh hót đãi bôi! Mi mặc áo Lam trên người mà bụng cứ nghĩ mưu cầu lợi riêng, cứ chạy theo danh vọng, hò hét với đàn em, khúm núm với kẻ trên như gà mất đầu chạy loanh quanh. Mi như ngựa thả trên thảo nguyên, tưởng đồng cỏ mênh mông tha hồ phóng đại hay gặm cỏ tùy thích, té ra, mi chẳng có cỏ mà gặm, nhìn thảo nguyên kia bị rào che tự lúc nào! Sao không nói thật rằng mời bạn qua dùng bữa cơm rau thân mật hoặc “rửa cái bụng trần gian tục lụy” bấy lâu nay nghe còn sướng tai hơn!

Ngày xưa đi trại, chỉ rau muống lá me, cơm sống gạo vàng vẫn giành nhau mà chén, nước đun sôi để nguội còn hăng mùi khói củi… có đứa nào ôm bụng kêu rên, bụng vẫn no đầy tiếp tục trò chơi lớn kia mà! Ngay hôm qua đây thôi, có người tu Bát quan trai, khi bước vào quá đường lại dè bĩu, món ăn như thế này làm sao mà tu? Mi thấy sao?

Tôi đỏ mặt, cái ngã to đùng tự dưng trỗi dậy phừng phừng. “Cái ngữ” ấy coi thường tôi quá. Ít ra, tôi cũng đã “có mặt tham gia” từ những sự kiện thời nhà Ngô đàn áp Phật giáo cho đến năm 1997 với sự tái hiện tổ chức GĐPT trên toàn cõi đất nước. Trước đây,“cái ngữ” ấy từng vỗ vai khen tôi khéo léo quen biết huynh trưởng GĐPT từ cấp Trung ương cho đến thị thành, biết lăng xăng nghe trên răn dưới, biết chạy vạy từ nơi này đến nơi nọ để nhằm mục đích phụng sự đạo pháp. Thế mà giờ đây “cái ngữ” ấy bảo tôi là “kẻ vô tổ chức, phi chính phủ” vì không thấy ai mà chỉ thấy mình với cái ngã to bự, cái sự lý ái thủ bám víu, ngồi đó đợi người khác cung phụng nể nang rồi khi nhắm mắt hy vọng màu cờ phủ lên áo quan kèm theo hai hàng đoàn sinh thắp nến, cầm hoa đứng hai bên đường với gương mặt eo xèo nhớ tiếc mình!

Đã vậy, “cái ngữ” ấy còn xỏ xiên rằng tôi là cư sĩ nỗi gì. Chẳng qua tôi đang tu Tiên, chẳng phải tu Thiền, tu Mật hay tu Tịnh độ. Tôi đang luyện linh đơn để “trường sinh bất lão” bằng nguyên liệu là danh vọng, tiền bạc, mê đắm tham sân được chưng nấu trên ngọn lửa bản ngã bỉ thử to đùng, chẳng chịu hiểu câu “Hồi đầu thị ngạn”, là còn “dục ái trụ địa phiền não” nên tâm ý giờ mới còn mãi với “vô minh trụ địa phiền não” nên nhìn qua thì thấy tôi “bảnh chọe” thật nhưng xét kỹ thì tôi “chẳng giống ai” rồi cả đời khổ cứ khổ mới chết chứ!

“Cái ngữ” ấy “ăn được, nói được”, nói chung là “không chơi được” hà cớ gì mình mời về nhà ăn chung bữa cơm chay! Có lẽ, kể từ hôm nay, thấy mặt là ghét! Nhưng xét nghĩ, không có “cái ngữ” ấy không được. Lời nói ấy thế mà đúng, nghe ra nóng bừng cả tai, tái mét cả mặt, sự thật mất lòng, vì bấy lâu nay có ai dám nói thẳng trước mặt mình đâu! Đúng là đường vinh quang nào chẳng chông gai bầm giập.

Nhạc sĩ Phạm Duy có câu hát rằng “Đố ai nằm ngủ không mơ?”. Tôi đã từng mơ, mơ thấy mình ăn chay thật là ngon chỉ với tương chao ngô bí mà lòng thấy nhẹ nhàng, không ngụy mị, không dối trá với chính mình, không lầm lẫn giữa cái tâm và cái thân ngũ uẩn tứ đại. Dẫu biết, ăn chay đối với người Phật tử không phải là một sự hiếu kỳ, một sự hiếu danh, một cách đổi món ăn cho ngon miệng, một cách kiêng cữ theo lời dặn của bác sĩ (Phật học phổ thông - HT.Thích Thiện Hoa).

Đêm mằm mộng, thấy như thật. Tôi là ai? Tôi loạng choạng nơi cõi vô vi trống rỗng tịch diệt, không nhà không cửa, không tiền không danh, không con không vợ, không đến không đi, không buồn không vui, không tức cảnh sinh tình… nhưng thế mà sướng, chẳng lôi thôi giữa vòng u minh sinh tử! Ừ thì tỉnh dậy mau để làm người trong cõi Ta-bà này, chấp nhận đối diện với hiện trường thực tế, cố gắng phủi tay quên bớt sự đời để Chủ nhật tới chở vợ con thong dong phố phường nhìn cười thiên hạ cứ bon chen và để tỉ tê ly cà-phê “chánh mạng” cùng các bạn hiền bên hiên nhà mơ màng nhìn làn mưa chiều lâm thâm khoái trá.
Thục Độ

Lắng nghe để hiểu & thương

Lắng nghe để hiểu & thương

Đăng lúc: 23:58 - 27/03/2016

Một con cú già khôn ngoan sống ở cây đa. Nó càng nhìn thấy sự đời thì càng ít nói. Mà nó càng ít nói thì lại lắng nghe nhiều. Tại sao mình lại không như con cú già khôn ngoan kia? (Khuyết danh).
bo-tat-QTa.jpg
Quán Thế Âm có nghĩa là quán chiếu, suy xét, lắng nghe âm thanh của thế gian...

Khi còn bé thơ, chúng ta được dạy ‘học ăn, học nói, học gói, học mở’. Và càng nói nhiều thì đó là dấu hiệu phát triển bình thường. Nhưng ít khi nào chúng ta được dạy phải biết lắng nghe. Và phần nhiều, cha mẹ, thầy cô, các bậc phụ huynh, v.v… không để tâm nhiều đến chuyện dạy dỗ cách biết lắng nghe. Tất nhiên, cha mẹ hay các thầy cô có dạy mình phải biết nghe lời. Nhưng ít khi chúng ta được dạy cách biết lắng nghe cho đúng.

Thường khi trong một cuộc đối thoại, chúng ta muốn người đối diện nghe ý kiến của mình muốn phát biểu, hay diễn đạt hơn là mình nên lắng nghe ý tưởng của họ. Nếu đã là vậy, rõ ràng không có sự lắng nghe xảy ra. Mà hễ không có sự lắng nghe, hiểu và cảm thông sẽ không bao giờ được thiết lập. Vợ chồng thường hay gặp phải tình cảnh này, nên có câu nói chọc cười: ‘Ngày xưa chồng nói vợ nghe. Bây giờ chồng nói vợ chê lắm mồm’. Cho nên, biết lắng nghe là nhịp cầu nối đầu tiên cho sự hiểu biết, cảm thông.

Quán Thế Âm có nghĩa là quán chiếu, suy xét, lắng nghe âm thanh của thế gian. Theo phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa, sở dĩ Ngài mang tên gọi như vậy là do hạnh nguyện từ bi cứu khổ cứu nạn, mỗi khi chúng sanh bị khổ ách, nguy cấp, nhất tâm niệm danh hiệu của Bồ-tát, Ngài liền quán xét âm thanh đó, lập tức cứu họ thoát khỏi tai ách.

Nhiều kinh điển nói về công hạnh của Bồ-tát, về sức uy thần diệu dụng của Ngài, thường hiện thân khắp nơi cứu giúp người đang đau khổ trên trần gian. Nhưng để tu tập theo hạnh nguyện từ bi, cứu khổ của Ngài, thiết nghĩ, chúng ta nên tìm hiểu thêm một số chi tiết về những hạnh nguyện đó.

Trong kinh Pháp hoa nói Ngài thường thị hiện 33 hóa thân. Nhưng theo thiển ý, chắc đây là con số tượng trưng. Ngài được mô tả là một vị Bồ-tát luôn hóa thân cứu khổ mọi loài chúng sinh. Ngài hóa thân là một hiện tượng đặc thù theo tinh thần ‘tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên’, biểu lộ tấm lòng đại từ bi, không phân biệt kẻ thân, người sơ, kẻ thâm tín, người hoài nghi, thậm chí người vô thần, ngoại đạo.

Hiện tượng hóa thân nói lên sự thấu hiểu và cảm thông thật sâu sắc nỗi sợ hãi, mối ưu lo của chúng sinh trong thế giới đảo điên, mộng tưởng. Để được tiếp cận với một chúng sinh đang đau khổ, Ngài hiểu rõ rằng một người xa lạ, dù là một Bồ-tát, sẽ khó có thể đến gần để chúng sinh kia được giãi bày nguồn cơn nỗi khổ của mình.

Theo kinh nghiệm đời thường cho thấy, khi chúng ta đang đau khổ hoặc phiền não mình chỉ muốn chia sẻ với ai biết lắng nghe, thông cảm, và không có ý phê phán, bình phẩm về những điều mình đã làm sai, hay tâm tình mình đang giãi bày, thổ lộ. Và thường mình muốn chia sẻ với người quen biết, dễ thương, hoặc người nào tôn trọng ý tưởng và tình cảnh của mình. Nếu hiểu được điều này, chúng ta có thể đóng vai sứ giả của Đức Quán Thế Âm, lắng nghe mà không phê bình, chỉ trích để giúp làm vơi nỗi khổ của người.

Thật ra, ai trong chúng ta cũng đều có khả năng làm sứ giả Quán Âm, và muốn thành tựu vai trò này đòi hỏi mình phải biết lắng nghe.

Nhưng biết lắng nghe là một nghệ thuật. Nghĩa là chúng ta phải quên mình đi mà chỉ biết nghe người kia đang nói gì. Biết lắng nghe đòi hỏi mình phải biết lắng đọng tâm tư để nghe rõ thông điệp của người mình đang đối diện. Cái bi kịch thường hay xảy ra cho chúng ta là khi mình muốn học hạnh lắng nghe nhưng cứ mỗi khi nghe xong câu chuyện mình lại diễn dịch nó qua lăng kính kinh nghiệm của bản thân, giống như mình nhìn thấy một sự kiện qua cặp kính màu của mình, nên thay vì hiểu và cảm thông, chúng ta lại chỉ trích hay phê phán người đối diện là dở cái này, thiếu cái nọ.

Do đó, hành động lắng nghe của mình bị thất bại. Nếu chúng ta biết lắng nghe qua tâm hạnh từ bi như Bồ-tát Quán Thế Âm, chúng ta biết tôn trọng ý tưởng của người nói và lắng nghe cho kỹ những nỗi khổ đau mà họ đang trải nghiệm, thì công sức lắng nghe của mình sẽ chắc chắn mang lại một kết quả tốt và có thể sẽ làm vơi đi nỗi khổ của người.

Ngoài việc hóa hiện các thân để cứu độ, Ngài còn có khả năng làm cho chúng sinh hết lo sợ (vô úy thí). Trong kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn có nêu lên 14 hoàn cảnh, những trường hợp tượng trưng, mà Ngài đã vận dụng năng lực vô úy để cứu độ. Năng lực vô úy là một khả năng đặc thù mà chỉ có những ai thật định tĩnh, tự tin, và từ bi vô hạn mới có thể làm được. Như một bà mẹ thương con vô cùng mới có thể làm con mình yên tâm dù hoàn cảnh trước mặt đang xảy ra vô cùng bất lợi và nguy hiểm. Sở dĩ chúng ta cảm thấy an lòng, không hoảng sợ, kinh hoàng trước sự hiện diện của Bồ-tát Quán Thế Âm vì Ngài sẵn lòng hy sinh bản thân để cứu độ mọi người.

Chúng ta cũng đã từng nghe qua năng lực vô úy này được các thiền sư thể hiện, như trong câu chuyện sau: Trong thời nội chiến ở Triều Tiên, một vị tướng soái dẫn quân đánh chiếm hết vùng này đến vùng kia, hủy diệt hết những gì cản trở bước tiến của ông ta. Dân chúng trong thành biết đoàn quân của vị tướng đang đánh tới, và nghe tiếng tàn bạo của ông ta nên mọi người đều trốn lánh vào vùng núi cao.

Vị tướng tiến chiếm thành không người và ra lệnh quân lính tìm kiếm dân trong thành khắp nơi. Vài người lính trở về báo cáo chỉ có một thiền sư còn ở lại. Vị tướng quân liền vội vã đến chùa, đi thẳng vào bên trong, rút gươm ra, và nói: “Lão thầy chùa kia, ông không biết ta là ai sao? Ta là người có thể thản nhiên lấy mạng của ông không chớp mắt”. Vị thiền sư nhìn thẳng vào mặt ông tướng soái và bình thản trả lời: “Và tôi, thưa ngài, là người có thể để ngài lấy đầu mà cũng không chớp mắt”. Vị tướng quân nghe xong, liền cúi đầu và bỏ đi.

Sợ hãi là bản năng của con người, ai sinh ra cũng có. Nhưng các bậc thánh, hay như người căn tính yếu kém như chúng ta, nếu biết tu tập tinh chuyên và có lòng từ bi vô lượng, đều có khả năng, không những vượt qua nỗi sợ hãi của bản thân, mà còn khéo giúp người khác an tâm, không lo sợ. Tu tập hạnh từ bi có khả năng giúp mình vượt qua khổ hải và cũng giúp được người vơi bớt khổ đau. Vậy muốn có được năng lực vô úy thì chúng ta không thể thiếu hạnh từ bi.

Tuệ giác của pháp môn lắng nghe, không chỉ nằm trong việc lắng nghe âm thanh, lời nói, ngôn ngữ của người đối diện, mà còn vận dụng hết cả thân tâm mình từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và cả ý căn, để hiểu thấu và thấy rõ từ cử chỉ, hành vi, và sắc diện của họ đang nói lên những gì, mà lời nói, ngôn ngữ chưa diễn đạt, trình bày được hết ý của câu chuyện.

Chỉ cần vận dụng một phần ba (1/3) năng lượng của tuệ giác lắng nghe là chúng ta đã có thể giúp vơi đi nỗi khổ của người khác nhiều lắm rồi. Nhưng tiếc thay, đa số chúng ta thích nói hơn là thích nghe nên năng lượng của tuệ giác lắng nghe ít khi được sử dụng. Sở dĩ, mình thích nói hơn lắng nghe vì bản ngã, hay cái ta, đóng vai trò lớn trong việc thể hiện tầm quan trọng của bản thân, con người mình. Không ai muốn đóng vai trò ‘thấp cổ, bé miệng bao giờ!’. Hiểu rõ được điều này và phải vận dụng nhiều công phu tu tập mới có được chút khả năng lắng nghe vi diệu của Bồ-tát Quán Thế Âm.

Nhân ngày lễ vía của Đức Bồ-tát, chúng ta hãy cùng nhau vận dụng hết năng lực của mình để nhất tâm tu tập nguyện noi theo công hạnh của Ngài và để xứng đáng làm một sứ giả của Bồ-tát Quán Thế Âm.

Tháng 10-2015
Tuệ Nghiệp

Hoa đăng vía Phật Di Đà tại chùa Đức Hậu

Hoa đăng vía Phật Di Đà tại chùa Đức Hậu

Đăng lúc: 03:12 - 30/12/2015

Tối ngày 17/11 năm ất mùi, tại chùa Đức Hậu, Nghi Đức, Thành phố Vinh do Đại Đức Thích Định Tuệ trụ trì đã long trọng tổ chức đêm hội hoa đăng. Đêm thiêng liêng, huyền diệu kỷ niệm ngày vía Đức Từ Phụ A Di Đà để cầu cho thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc, đất nước phồn vinh, gia đình hạnh phúc.

Chứng minh và tham dự có Đại Đức Thích Minh Lâm; Đại Đức Thích Quảng Tánh : BBT Báo giác Ngộ- tỉnh Đồng Nai ... Đại đức Thích Minh Duy: Trụ trì Tịnh Xá Ngọc thịnh- tỉnh Bình Dương; Sư Cô : Thích nữ Minh Hoa – Bà trịa – Vũng Tàu cùng các Tăng, Ni trong Ban Trì Sự, tỉnh nghệ An.

Và sự hiện diện rất mực thành kính, trang nghiêm của toàn thể quý Phật Tử trong Đạo Tràng Hương Sen xứ Nghệ à các em trong gia đình vườn Tuệ, cùng các Phật Tử gần xa cùng về tham dự.



“ Lái con thuyền Bát Nhã, đưa nhân loại về miền Tịnh Độ
Cầm ngọn đuốc trên tay , giúp chúng sanh thoát cõi Ta Bà
Giữa biển khổ mênh mông, thuyền chánh pháp là phương tế độ
Trong sanh từ nghìn trùng, niệm Di Đà là cách qua sông”

Đêm nay , trong buổi lễ kỷ niệm ngày vía của Ngài, những điều thiêng liêng cao đẹp nhất, những giá trị đạo đức thiêng liêng cao cả nhất được tôn vinh , được đưa vào cuộc sống cộng đồng. Đây là cơ hội tốt để mọi người hướng về đức Phật, hướng về hình ảnh siêu thoát của bậc xuất trần thượng sĩ.
Bằng tuệ giác siêu việt, Ngài đã chứng ngộ chân lý tối hậu, giải thoát cho chính mình và sẵn sàng trao cho nhân loại tấm bản đồ trở về cội nguồn chân tâm thường trú. Những pháp âm vi diệu tưới mát tâm hồn , và những đại nguyện quý báu kia vẫn còn đọng lại trong trái tim của nhân loại, vẫn còn in mãi trong tâm hồn của những người con Phật.
Đó là 48 đại nguyện , là Thánh đạo, là con đường giải thoát bằng phương pháp của tâm từ bi vô lượng, và trí tuệ vô cùng, sẵn sàng xóa bỏ mọi hận thù, tư kỷ trong tâm hồn, cho thế giới Ta – Bà phủ đầy gấm hoa, diễm lệ.



Đại Đức Thích Quảng Tánh đã ban đạo từ cho thiện nam, tín nữ trong đêm lễ hội hoa đăng về “ ý nghĩa hoa đăng và Pháp môn Tu Tịnh Độ “ . Lời Thầy chia sẻ như được lưu xuất từ một phẩm hạnh tinh sạch, trang nghiêm, ,một nội tâm có bề dày công phu tu tập, chúng con mừng vui quá đỗi, hệt như vừa tìm lại được một điều gì mà bấy lâu đã bị lãng quên. Đặc biệt là 2 ngày liên tục chúng con được sự hướng dẫn, chỉ dạy, của Chư Tôn Đức để chúng con được hành trì lời Phật dạy, thực hành, trì danh niệm phật và cảm nhận được nguồn hạnh phúc , an lạc suốt trong những ngày tu tập ở nơi đây.



Đại Đức trụ trì chùa Đức Hậu, trưởng BTC đêm hội đang đón nhận ánh sáng trí tuệ từ bàn Phật, và đang truyền sang cho chư tôn tịnh đức, như một biểu hiện của Tăng đoàn hòa hợp, chánh pháp rạng ngời.

Cầm ngọn nến trên tay, chúng con bỗng nghe tiếng lòng mình thổn thức, trái tim băng giá nay được gội sạch, bằng ánh sáng của tình thương vô hạn. Từ đây chúng con xin nguyện , sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm địa ngục trần gian đau khổ nữa. Chúng con nguyện học theo hạnh của Ngài, tìm cách có mặt ở bất cứ nới đâu mà bóng tối khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang ngự trị. Để có thể mang đến những nơi ấy ánh sáng niềm tin, hi vọng và giải thoát.



Chúng con nguyện cố gắng thiết lập liên hệ với những ai đang không còn lối thoát, và không bao giờ quyên lãng, hay bỏ rơi những người còn đang ở trong tình huống tuyệt vọng.
Chư tôn tịnh đức đang thảnh thơi bước xuống thềm và đêm ánh sáng ấy truyền dến cho hàng Phật tử. Nến truyền nến, tâm truyền tâm, những ngọn nến này, ngọn nến biểu tượng của trí tuệ, của ánh sáng chân lý, soi chiếu vào dòng đời , để phá ta màn vô minh si ám; ngọn nến của hiểu biết, chan trải về tất cả, để cuộc sống tình người, ngày một cảm thông hơn.

“ Chỉ có ánh sáng đạo thiên
Mới là phương pháp dẹp tan khổ sầu
Chỉ có giớ luật đứng đầu
Mới là hoa nở thấm mầu vô ưu”

Lễ hội hoa đăng mừng kỷ niệm ngày vía đức Từ Phụ A Di Đà tại chùa Đức Hậu đêm nay đã khép lại nhưng dư âm về suốt tuần lễ tu tập ở đây luôn in đậm trong lành của mỗi chúng con. Nó chính là động lực giúp chúng con tinh tấn tu tập, là nấc thang để chúng con đến với Phật pháp và mãi mãi chúng con không thể nào quên.

Là Phật tử cần phải biết cơ bản về Chư Phật và Bồ tát

Là Phật tử cần phải biết cơ bản về Chư Phật và Bồ tát

Đăng lúc: 08:04 - 08/11/2015

Trong các tự viện, hình tượng đức Phật và Bồ tát được các sư thầy bố trí thờ tự khắp nơi. Tuy nhiên rất ít người biết được tên gọi chính xác, lịch sử và ý nghĩa của mỗi pho tượng được thờ, cũng như tại sao lại để ở vị trí như vậy.
Ðức Phật Thích Ca, trước khi thành Phật tên gọi là Sĩ Ðạt Ta là con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Gia, ở thành Ca Tỳ La (Kapilavatsu).

Đức Phật Thích Ca



Ngài sinh vào ngày trăng tròn, tháng hai Ấn Ðộ (nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch Trung Hoa, năm 624). Ra đời chưa đầy một tháng, Ngài mồ côi mẹ, nhờ Dì mẫu nuôi dưỡng cho đến trưởng thành.

Năm 29 tuổi, Ngài trốn vua cha vượt thành xuất gia tầm thầy học đạo, đã tu tập với nhiều vị đạo sư và 6 năm tu khổ hạnh nhưng rốt cuộc Ngài thầy không đem lại sự giải thoát. Ngài trở lại lối sống bình thường, vận dụng tâm trí quan sát tướng chân thật của vũ trụ.

Sau 49 ngày ngồi thiền định ở dưới cội Bồ đề, Ngài bừng ngộ thấy rõ chân lý của cuộc đời, biết được mọi người đều có đủ khả năng giác ngộ và giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Sau khi chứng đạo, Ngài du hành thuyết pháp suốt 45 năm. Những môn đồ được Ngài giáo hóa đông vô kể. Năm 80 tuổi, nơi rừng Ta la song thọ ngoài thành Câu Thi, sau buổi thuyết pháp cuối cùng, Ngài nhập Niết bàn (mất - PV).

Đức Phật A Di Đà



Thời đức Phật Thế Tự Tại Vương, có vị quốc vương tên Kiều Thi Ca nghe Phật thuyết pháp liền bỏ ngôi vua xuất gia làm Tỳ-kheo hiệu là Pháp Tạng. Một hôm, Ngài đảnh lễ Phật cầu xin chứng minh cho Ngài phát 48 lời nguyện.

Do nguyện lực ấy, sau này Ngài thành Phật hiệu A Di Đà ở cõi Cực-lạc. Đức Phật A Di Đà thường thờ có hai tượng: Tượng ngồi kiết già trên tòa sen, tay kiết định ấn, tương tự tượng Thích Ca.

Tượng đứng trên hoa sen lơ lửng trong hư không, bên dưới là bể cả sóng dậy, mắt Ngài nhìn xuống, tay mặt đưa lên ngang vai, tay trái duỗi xuống như sẵn sàng chờ đợi tiếp cứu những người đang trầm mịch. Tượng ấy gọi là tượng Di Đà phóng quang.

Đức Phật Di Lặc (hay còn gọi là Phật tương lai)



Bồ-tát Di Lặc là người Nam Ấn Độ, sinh ra trong gia đình Bà-la-môn. Sau khi Đức Phật Thích Ca thành đạo và truyền bá chánh pháp (pháp môn Phật giáo - PV), Ngài đã xuất gia tu hành.

Đến khi Phật Thích Ca nhập Niết bàn, Bồ tát Di Lặc cũng mất và sinh về cung trời Đâu Suất, đợi ngày xuống trần gian thành Phật, hiệu là Di Lặc.

Tượng Ngài thờ theo lối Tam Thế Phật cũng tương tự tượng Phật Thích Ca. Chỉ đáng chú ý nhất bức tượng hình một vị Hòa thượng mập mạp, miệng cười toe toét, mặc áo phơi ngực, bày cái bụng to tướng, chung quanh có 6 đứa bé quấy nhiễu, đứa chọc tay vào mũi, đứa móc miệng, đứa chìa vào hông..., Ngài vẫn cười tự nhiên.

Ngoài ra tượng Bồ-tát Di Lặc cũng được làm theo điển tích của Bố Đại Hòa thượng - Hòa thượng mang đãi lớn mà tô tượng.

Bố Đại Hòa thượng xuất hiện vào đời nhà Lương ở Trung Hoa, Ngài ăn mặc xốc xếch, đi đâu thường mang cái bị lớn, gặp ai có món gì xin món ấy dồn vào bị, gặp những bọn trẻ con đem ra phân phát cho chúng. Bọn trẻ con thích Ngài lắm.

Bồ tát Đại Thế Chí



Ngài đứng bên phải đức Phật A Di Đà, tướng người cư sĩ cổ đeo chuỗi anh lạc, tay cầm hoa sen xanh. Đây là lối thờ Di Đà tam tông: Đức Phật Di Đà ở giữa, bên tả Bồ-tát Quán Thế Âm, bên hữu Bồ-tát Đại Thế Chí.

Hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm

Thuở đức Phật Bảo Tạng, Ngài là thái tử con vua Vô Tránh Niệm. Ngài theo vua cha đến nghe Phật thuyết pháp và thỉnh Phật cùng Tăng chúng về cung cúng dường.

Bồ tát Quán Thế Âm



Do công đức ấy, được Phật thọ ký (chứng nhận - PV) sau này làm Bồ-tát hiệu là Quán Thế Âm, phụ tá đức Phật A Di Đà giáo hóa chúng sinh và sau nữa sẽ thành Phật hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương (kinh Bi Hoa quyển ba, phẩm Chư Bồ-tát bổn thọ ký).

Về hình tượng của Bồ tát Quán Thế Âm, được dân gian tạo ra với các dạng như Quán Âm Hài Nhi (thể theo cốt truyện Quán Âm Thị Kính), Quán Âm Nam Hải, Quán Âm Tử Trúc...

Ngoài ra phái Mật tông cũng có hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm với đủ hình dáng như: Quán Âm Mã Đầu, Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Quán Âm Cữu Diện...

Có một pho tượng thường được thấy thờ trong các nhà dân nhất là Quán Âm thanh tịnh bình thùy dương liễu.

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi



Ngài là con thứ ba vua Vô Tránh Niệm tên là Thái tử Vương Chúng. Do cúng dường đức Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sinh nên được hiệu là Đại Trí Văn Thù Sư Lợi và được thọ ký sau này sẽ thành Phật ở thế giới thanh tịnh Vô Cấu Bảo Chỉ, hiệu là Phật Văn Thù (Kinh Bi Hoa).

Ngài là vị Bồ-tát hiểu thấu Phật tính, đầy đủ ba đức: Pháp thân, Bát-nhã, Giải thoát; hằng đem ba đức ấy giác ngộ chúng sinh.

Tay mặt Ngài cầm kiếm sắc bén. Tay trái cầm hoa sen xanh. Mình ngồi trên lưng Sư Tử xanh. Có nơi Ngài hiện tướng người xuất gia, vì với tư cách trợ hoá cùng đức Phật Thích Ca nên phải hiện thân người xuất gia như các vị Tỳ-kheo. Có chỗ thờ Ngài với hình thức người cư sĩ đội mũ, mặc giáp, cầm kiếm.

Bồ tát Phổ Hiền



Ngài là con thứ tư vua Vô Tránh Niệm tên là Năng Độ. Do cúng dường đức Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sinh, Ngài được Phật thọ ký sau này tu hạnh Bồ-tát sẽ được tên là Kim Cương Trí Huệ Quang Minh Công Đức và sẽ thành Phật ở thế giới Bất Huyền phương Đông hiệu là Phổ Hiền Như Lai (Kinh Bi Hoa).

S.T

10 Bài Học Đáng Suy Gẫm Từ Cuộc Đời

10 Bài Học Đáng Suy Gẫm Từ Cuộc Đời

Đăng lúc: 17:23 - 02/11/2015

Khi sống con người hay lãng phí thời gian làm những việc vô nghĩa, bởi lòng tham lam, ích kỷ của chính mình, tích chứa tiền bạc của cải nhưng không giúp gì cho ai?

Có một con cáo đã phát hiện ra một chuồng gà, nó bèn tìm cách tiếp cận nhưng vì cáo nhà ta quá mập nên không thể chui lọt vào chuồng để ăn gà. Thế là nó đành phải nhịn đói suốt ba ngày liền mới có thể vào được chuồng gà. Sau khi vào được, nó đã ăn no nê để bù lại những ngày nhịn đói, giờ đây chiếc bụng của cáo đã phình to ra, nên không thể nào ra được nữa, thế là cáo đành phải nhịn đói trở lại ba ngày mới có thể ra khỏi chuồng gà.

1-Cuộc đời của một người cũng lại như thế. Khi đến trần gian này với hai bàn tay trắng và khi nhắm mắt lìa đời chẳng mang được gì theo? Không một ai có thể mang theo gia tài sự nghiệp mà mình đã vất vả gầy dựng một đời.

2-Chúng ta thường dùng tuổi trẻ để kiếm tiền bắt chấp mọi thủ đoạn, nhưng tiền không mua lại được tuổi trẻ, chính vì vậy mà có nhiều người luyện trường sinh bất tử, có ai mà trẻ mãi không già đâu?

3-Chúng ta dùng mạng sống để kiếm tiền, nhưng tiền không mua lại được mạng sống, bởi vì ai cũng già, bệnh chết?

4-Chúng ta dùng hạnh phúc để đổi lấy tiền, nhưng tiền không mua lại được hạnh phúc mà chỉ giúp thõa mãn nhu cầu vật chất.

5-Chúng ta dùng thời gian để kiếm tiền, nhưng tiền không mua lại được thời gian vì thời gian cứ trôi qua mãi.

6-Chúng ta hãy nên nhớ rằng: Khi có tiền, ta có thể mua được một ngôi nhà, nhưng ko thể mua được tổ ấm gia đình. Tiền có thể mua được một chiếc giường nhưng ko thể mua được giấc ngủ ngon. Tiền có thể mua được một chiếc đồng hồ nhưng không thể mua được thời gian.

7-Tiền có thể mua được một cuốn sách nhưng không mua được sự hiểu biết chân chính. Tiền có thể mua được sắc đẹp nhưng ko thể kéo dài mãi tuổi thanh xuân. Tiền có thể mua được nhiều loại thuốc quý nhưng ko thể mua được sức khoẻ.

8-Khi sống con người hay lãng phí thời gian làm những việc vô nghĩa, bởi lòng tham lam, ích kỷ của chính mình, tích chứa tiền bạc của cải nhưng không giúp gì cho ai?

9-Cuộc đời như áng mây trôi, khi tan, khi hợp, khi được, khi mất, khi có, khi không luôn biến chuyển đổi thay không ngừng nghỉ, chúng ta hãy cố gắng tu hành để vượt qua sống chết khổ đau.

10-Đã là thân phận con người ai cũng phải chịu cái khổ “Sinh, già, bệnh, chết”, nhưng người biết tin sâu nhân quả sống một ngày là có ích cho gia đình và xã hội, nên đến khi chết thì họ không bao giờ tiếc nuối và lo sợ.

Vĩnh Phúc: Đêm hội Hoa đăng tri ân tôn sư Hải Triều Âm

Vĩnh Phúc: Đêm hội Hoa đăng tri ân tôn sư Hải Triều Âm

Đăng lúc: 05:39 - 08/08/2015

Tối ngày 05 tháng 08 năm 2015, nhằm ngày 21 tháng 06 năm Ất Mùi, toàn thể môn đồ Pháp quyến và nhân dân Phật tử chùa Linh Sơn – xã Lũng Hòa – huyện Vĩnh Tường – tỉnh Vĩnh Phúc đã long trọng tổ chức Đêm hội Hoa đăng dâng Phật nhân lễ Húy nhật Đại tường của cố Ni trưởng Thích Nữ Hải Triều Âm.
Đêm hội hoa đăng này nhằm mục đích hướng nguyện tâm thành đến mười phương chư Phật, và cũng là dịp để hàng đệ tử, môn đồ Pháp quyến, hàng Phật tử thể hiện lòng tôn kính đến cuộc đời và công hạnh của Cố Ni trưởng Thích Nữ Hải Triều Âm. Đồng thời cũng hy vọng rằng, ánh sáng của Từ Bi và Trí Tuệ của đêm hội hoa đăng này sẽ trải khắp lòng từ bi và bác ái, mang lại sự yêu thương và hiểu biết làm lợi lạc cho chúng sinh, nguyện cầu thế giới hòa bình, dân an quốc thái.
Chứng minh buổi lễ có: Hòa thượng Thích Thanh Đàm - Ủy viên thường trực HĐCM GHPGVN; Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm – Phó chủ tịch HĐTS kiêm Trưởng Ban hoằng pháp TW GHPGVN; Thượng tọa Thích Thọ Lạc – Ủy viên TT HĐTS TW GHPGVN, Phó thường trực Ban Văn hóa TW GHPGVN; Đại đức Thích Minh Nghiêm - Ủy viên HĐTS TW GHPGVN, Trưởng BTS GHPGVN Tỉnh Phú Thọ cùng chư tôn đức Tăng Ni đến từ các tự viện tịnh thất, chư tôn đức Tăng Ni môn đồ Pháp quyến cùng sự tham dự của đông đảo tín đồ Phật tử thập phương.
Mở đầu buổi lễ, sau lời phát biểu khai mạc của Thượng tọa Thích Thọ Lạc, Đại đức Thích Minh Nghiêm - Ủy viên HĐTS TW GHPGVN, Trưởng BTS GHPGVN Tỉnh Phú Thọ đã đọc ý nghĩa hoa đăng.
Và trong giây phút thiêng liêng nhất, chư tôn đức chứng minh và toàn thể đại chúng đã làm lễ niêm hương, bạch Phật, khai trì Đại thừa Vô thượng Pháp Bảo Đại Bi Thần Chú và Bát Nhã tôn kinh để chú nguyện ánh sáng. Sau đó, Hòa thượng Thích Thanh Đàm và Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm đã đón nhận ánh sáng trí tuệ từ bàn thờ Phật, truyền trao cho chư tôn Thiền đức, như một biểu hiện của Tăng đoàn hòa hợp, của chính pháp rạng ngời.
Từ ngọn nến trên tay chư tôn đức, quý đại biểu chính quyền và Phật tử cũng tuần tự đón nhận nguồn ánh sáng của trí tuệ, soi chiếu vào dòng đời để phá tan vòng vô minh si ám. Ánh nến tiếp tục truyền đi, vùng sáng dần dần được lan tỏa. Đó là ngọn nến của hiểu biết, trang trải vào tất cả để cuộc sống tình người ngày càng một cảm thông hơn.
“Cung kính đỉnh lễ Đức Từ Phụ A Di Đà!
Cầm ngọn nến trên tay, ánh sáng truyền đến với nhau, chúng con thầm hiểu ra một điều rằng cõi đời này đêm tối vô minh vẫn còn dài lắm, bao nỗi thống khổ, những hệ lụy trần gian vẫn còn nhiều lắm. Bao phiền muộn trái ngang vẫn cứ quằn nặng lên đôi vai bé nhỏ. Nước mắt vẫn rơi, máu đào vẫn đổ. Trong khi đó, tất cả chúng con đang là những kẻ lạc lõng bơ vơ giữa dòng đời muôn lối. Không có ánh đuốc sáng soi đường, không tìm thấy một người chỉ nẻo. Vậy mà đường đến bờ lành đối với chúng con vẫn còn mờ xa thăm thẳm. Có ước mơ gì trong những cuộc viễn chinh mỏi mòn và lê thê ấy, có tìm thấy được gì sau bao tháng ngày rong ruổi bồng phiêu. Nhìn lại tất cả chỉ là bọt bèo hư huyễn.
Ngày vui vụt qua thoáng chốc, tuổi xanh thoắt đó hết rồi. Kiếp nhân sinh như phù du tù tánh, bả lợi danh như biển nước mây bay. Nhưng kính lạy Đức Từ Phụ: nhờ ánh quang minh và lòng từ mẫn của Người soi đến, chúng con đã định hướng được đường về. Có Tam Bảo để tựa nương, biết cầu vãng sanh nơi Phật cảnh.”
Buổi lễ đã kết thúc bằng phút mặc niệm thiêng liêng, lắng lòng tâm tư ngưỡng nguyện giác linh cố Ni trưởng Thích Nữ Hải Triều Âm cao đăng Phật quốc, thượng phẩm thượng sinh, không quên nguyện lực, tái hiện Sa bà, giáo nhân bất quyện.



































































Chùa Bằng

Nam nữ luyến ái

Nam nữ luyến ái

Đăng lúc: 20:43 - 29/06/2015

Trong đời sống thế tục, ái dục đem đến hạnh phúc khiến cho họ gắn kết không rời...

Chúng ta sinh ra trong cõi Dục nên ái dục vốn sẵn trong thân tâm của mình. Ái dục nam nữ là nghiệp dĩ bình thường của chúng sanh. Trong đời sống thế tục, ái dục đem đến hạnh phúc khiến cho họ gắn kết không rời, có người không chỉ yêu thương nhau trong đời này mà còn nguyện ước gắn kết trong các đời sau.

Người xuất gia thì ngược lại, không tùy thuận theo dòng chảy ái dục như người thế tục. Khi mới phát tâm xuất gia, dĩ nhiên năng lực ái dục chưa được chế ngự và nhiếp phục, nên tránh duyên là điều hết sức cần thiết. Nếu không tránh duyên được, chánh niệm là pháp quan trọng để giữ vững thân tâm. Nhờ có chánh niệm, tâm vọng khởi mê đắm sắc dục được chuyển hóa, giúp người tu làm chủ được mình.

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

- Ta ở trong chúng này, không thấy một pháp nào tối thắng, tối diệu, mê hoặc người đời, không đến được chỗ tĩnh lặng, cột trói vào lao ngục, không giải thoát được, như là đàn ông trông thấy sắc của đàn bà. Thấy rồi họ liền khởi tưởng để ý, rất yêu kính, khiến người không được tĩnh lặng, trói buộc lao ngục, không cởi bỏ ra được, ý không xa lìa, xoay vần qua lại đời này đến đời sau, luân chuyển năm đường, trải bao số kiếp.

Bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ:

Tiếng Phạm âm nhu nhuyến

Như lời Như Lai khó thấy

Hoặc lại có lúc thấy

Buộc niệm ở trước mắt

Cũng chớ cùng nữ nhân

Qua lại và nói năng

Hằng bủa lưới bắt người

Chẳng đến được vô vi.

Thế nên, này các Tỳ-kheo, nên trừ các sắc khởi tưởng đắm trước. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm Một đứa con,
VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.99)
Rõ ràng, vượt qua đam mê ái dục nam nữ là một trong những thách thức to lớn đối với người xuất gia. Chính Đức Phật cũng xác định, nếu trần gian có đến hai món khoái lạc như ái dục nam nữ thì không ai có thể tu được. Chỉ có một món thôi cũng đã khiến cho nhiều người trầy trật trên đường tu của mình. Thế Tôn đã dạy, nếu biết tránh duyên và nhất là thường “buộc niệm ở trước mắt” thì có thể làm chủ tâm, chuyển hóa các ý niệm đắm say, dính mắc vào sắc dục.

Thế Tôn đã dùng biết bao phương tiện để nói đến sự bất tịnh của sắc, sự nguy hiểm của sắc, sự trói buộc của sắc để giúp cho người tu giác tỉnh. Kỳ thực thì sắc trần vốn không có lỗi, tâm chúng ta đắm trước sắc trần mới là căn nguyên của tội lỗi. Do đó, “trừ các sắc khởi tưởng đắm trước” không phải phá bỏ các sắc thuộc về bên ngoài mà chủ yếu là giữ vững tâm của mình.

Riêng đối với người đệ tử tại gia, pháp thoại này mang ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập và giữ gìn hôn nhân hạnh phúc. Nhờ các nhân duyên trong quá khứ và hiện tại nên hai người tự nguyện đến với nhau, nguyện sống chung và “trói buộc, không xa lìa” nhau. Chính nhờ nghiệp luyến ái này mà thệ nguyện sống với nhau đến ngày răng long, tóc bạc. Vậy nên mỗi người cư sĩ phải tự sửa mình, sao cho mình trở nên hấp dẫn, dễ thương và mát mẻ để “trói buộc” nhau chặt hơn. Hạnh phúc gia đình vốn rất mong manh, vì vậy mỗi người phải là điểm tựa cho người bạn đời và người thân của mình tìm về, dù cuộc mưu sinh ngược xuôi, nhiều lo toan vất vả.

 
Hạnh nguyện cấp cô độc
Gia đình vườn tuệ
Thống kê
  • Đang truy cập 15
  • Hôm nay 1,808
  • Tháng hiện tại 34,062
  • Tổng lượt truy cập 9,954,846