Hương Sen Xứ Nghệ

Hương Sen Xứ Nghệ Tỏa Ngát Đất Trời
Nhân ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đản sinh

Nhân ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đản sinh

Đăng lúc: 09:07 - 05/04/2018

Quán Thế Âm Bồ-tát có nhân duyên sâu dày với chúng sanh cõi Ta-Bà này nên thường thị hiện để cứu độ tất cả chúng sanh trên thế gian này, dù Tăng hay tục, dù sang hèn hay giàu nghèo, Ngài cũng đều từ bi bình đẳng cứu độ

Làm phước không bao giờ đủ

Làm phước không bao giờ đủ

Đăng lúc: 07:25 - 04/01/2017

Làm phước không bao giờ đủ

GN - Làm phước hay vun bồi phước đức là một trong những hạnh tu căn bản của người đệ tử Phật. Nhất là với hàng Phật tử tại gia thì việc tu phước có vai trò rất quan trọng vì tương đối dễ làm, và nhờ phước đức nâng đỡ nên mọi phương diện cuộc sống trở nên thuận lợi, tốt đẹp hơn. Trong các việc phước thì bố thí, cúng dường, hộ trì Tam bảo mang đến phước báo thù thắng nhất.
a cung dang.jpg
Cúng dường chư Tăng

“Một thời Đức Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ vua Ba-tư-nặc… đi đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết thâm pháp cho vua, khuyến khích, làm cho hoan hỷ. Vua Ba-tư-nặc nghe thuyết pháp xong, bạch Thế Tôn: Cúi mong Thế Tôn nhận lời con thỉnh trong ba tháng, cùng Tỳ-kheo Tăng, chớ đi nơi khác.

Thế Tôn làm thinh nhận lời thỉnh của vua Ba-tư-nặc. Vua Ba-tư-nặc thấy Thế Tôn yên lặng nhận lời mời, liền từ chỗ ngồi đứng lên, cúi lạy rồi lui đi. Về đến thành Xá-vệ, vua ra lệnh cho các quần thần: Ta muốn cúng dường thức ăn cho Đức Phật và Tỳ-kheo Tăng trong ba tháng, cung cấp các thức cần dùng như y phục, thức ăn, giường nằm, thuốc men khi bệnh tật. Các ông cũng nên phát tâm hoan hỷ. Quần thần đáp: Xin vâng.

Vua Ba-tư-nặc liền cất đại giảng đường ngoài cửa cung cấm hết sức đẹp đẽ, treo giăng phướn, lọng, kỹ nhạc xướng lên vô kể, bày các ao tắm, chưng các đèn dầu, dọn các thức ăn trăm vị.

Bấy giờ Thế Tôn thấy đã đến giờ, đắp y, ôm bát, cùng các Tỳ-kheo Tăng, vây quanh trước sau vào thành Xá-vệ, đến giảng đường kia. Đến rồi Ngài lại tòa ngồi, các Tỳ-kheo mỗi vị ngồi theo thứ tự. Khi ấy, vua Ba-tư-nặc cùng các cung nhân tự tay đem thức ăn cung cấp chỗ cần dùng; suốt ba tháng không chút thiếu sót, cung cấp y phục, thức ăn, giường nằm, thuốc men khi bệnh tật. Thấy Thế Tôn ăn xong, vua đem các thứ hoa rải lên Thế Tôn và các Tỳ-kheo Tăng rồi lấy một ghế nhỏ đến trước Như Lai ngồi, bạch Thế Tôn:

Con từng theo Phật nghe: do gốc nhân duyên bố thí thức ăn cho súc sanh được phước trăm lần, cho người phạm giới ăn được phước ngàn lần, cho người trì giới ăn được phước vạn lần, cho tiên nhân đoạn dục ăn được phước ức lần, cho bậc hướng Tu-đà-hoàn ăn được phước chẳng thể kể, huống lại Thánh quả Tu-đà-hoàn, huống là bậc hướng Tư-đà-hàm, đắc đạo Tư-đà-hàm, huống bậc hướng A-na-hàm, đắc đạo A-na-hàm, huống bậc hướng A-la-hán, đắc đạo A-la-hán, huống bậc hướng Bích-chi Phật, đắc Bích-chi Phật, huống bậc hướng Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, huống bậc thành Phật và Tỳ-kheo Tăng, phước đó công đức không thể tính kể. Hôm nay con tạo công đức đã xong.

Thế Tôn bảo: Đại vương! Chớ có nói thế! Làm phước không nhàm chán, hôm nay cớ sao nói đã làm xong? Vì sao thế? Vì sanh tử dài lâu không thể kể…”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm 23. Địa chủ [trích],
VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.401)

Căn bản của tinh thần bố thí, cúng dường theo lời Phật dạy là bình đẳng, phổ cập, không phân biệt. Nhưng được gieo duyên cúng dường với những bậc giới đức, trí tuệ, giải thoát như Đức Phật, chư vị Thánh Tăng thì phước báo vô lượng.

Trong pháp thoại này, vua Ba-tư-nặc đã hội đủ duyên lành, được cúng dường Thế Tôn và chư Thánh Tăng suốt ba tháng, dĩ nhiên phước báo của vua không thể nghĩ bàn. Tuy vậy, khi vua có ý tự mãn, xem việc làm phước của mình đã đủ, tạo công đức đã xong thì Đức Phật liền quở “Đại vương! Chớ có nói thế!”. Vì nói như thế là chưa đúng, làm phước không bao giờ đủ cả.

Sở dĩ Thế Tôn khuyến cáo đức vua không nên tự mãn “vì sanh tử dài lâu không thể kể…”. Khi chưa thành tựu giải thoát tối hậu, chúng ta vẫn tiếp tục trôi lăn trong sinh tử, nguy cơ vương vào ác nghiệp, làm tổn giảm phước đức rất cao. Nên người chưa tạo phước thì hãy cố gắng gây tạo, người đã biết làm phước thì tinh tấn làm thêm. Người đệ tử Phật nguyện làm phước không nhàm chán, không bao giờ nói đã làm xong, cho đến ngày phước trí nhị nghiêm, công viên quả mãn.
Quảng Tánh

Ý nghĩa của việc tu phước

Ý nghĩa của việc tu phước

Đăng lúc: 08:08 - 03/01/2017

Nếu mình muốn cầu nhiều phước thì phải tu phước, tu phước thì phải trồng phước, giống như nông dân làm ruộng, phải nỗ lực trồng trọt thì mới có thu hoạch, người tu phước cũng vậy, phải đem hạt giống phước đức gieo khắp ruộng phước ( phước điền ) thì mình sẽ thu hoạch được quả của phước báo.


Ý nghĩa của việc tu phước
I. Phước là gì?
Phước là chỉ cho sự giàu sang, sống thọ, con cháu đùm đề và thân thể khỏe mạnh của người thế gian. Hàn phi Tử nói : “ sống thọ, giàu sang được gọi là phước mà người đời ai cũng muốn có, ai cũng muốn năm phước vào nhà” ( ngũ phước lâm môn ). Vậy ngũ phước là gì?
1. Sống thọ
2. Giàu sang
3. Khỏe mạnh và yên ổn
4. Đức độ được con cháu hiếu thuận
5. Sống đến cuối đời và ra đi nhẹ nhàng
Nhưng đây chỉ là Tục phước của người đời, nó có giới hạn và vô thường, không bằng Hồng phước của cỏi trời, mà Hồng phước của cỏi trời lại không bằng Thanh phước vô ngã của hàng nhị thừa, Thanh phước của hàng nhị thừa thì lại không bằng phước Vô tướng của Bồ Tát, bởi vì Bồ Tát bố thí vô tướng, trong không thấy người bố thí, ngoài không thấy vật bố thí và cũng không thấy người nhận vật bố thí cho nên gọi là “tam luận thể không”. Vì vậy phước của vị đó đạt được là rất lớn. Tuy nhiên, vẫn không bằng phước thật tướng của chư Phật. bởi vì chư Phật đã tu phước, tu huệ, trăm ngàn kiếp đã trồng các tướng hảo, đến khi đầy đủ phước đức trí tuệ, viên mãn bồ đề., đạt vô sở đắc, nên phước báo mà chư Phật đạt được là rất lớn, không thể nghĩ bàn.
Không luận là tục phước của thế gian, Hồng phước của cỏi trời, Thanh phước của hàng Thanh văn, phước vô tướng của Bồ tát, phước thật tướng của chư Phật đều phải dựa vào sự vun trồng của bản thân, mình làm mình nhận, chẳng phải người khác cho, cũng chẳng phải trời ban bố. Nếu như một người thật lòng bố thí thì chắc chắn sẽ được giàu sang, phú quý. Người từ tâm không sát hại sẽ được khỏe mạnh, trường thọ. Người không làm các việc ác, chỉ làm các việc lành thì chắc chắn được cát tường như ý, tiêu trừ tai nạn. người nào có thể bố thí vô tướng, rộng tu phước tuệ thì nhất định sẽ thành Phật. Cho nên nói “ Họa phước không có cửa, chỉ do mình tạo, người không có phước cần phải vun trồng phước, phải tu phước thì mới có đời sống tốt đẹp” chúng ta cần phải tích phước, vun bồi phước và phải cầu nhiều phước.

II. Vì sao phải cầu nhiều phước
Nếu mình muốn cầu nhiều phước thì phải tu phước, tu phước thì phải trồng phước, giống như nông dân làm ruộng, phải nỗ lực trồng trọt thì mới có thu hoạch, người tu phước cũng vậy, phải đem hạt giống phước đức gieo khắp ruộng phước ( phước điền ) thì mình sẽ thu hoạch được quả của phước báo.
Phước điền là gì ? kinh Vô Lượng Thọ có ghi “ Phước thọ của thế gian giống như sinh vật trong ruộng. nên gọi là ruộng phước (phước điền)” phước điền thế gian lại có thể phân ra làm nhiều loại.
Một là Kính điền và Bi điền: đối với cha mẹ thầy tổ và tam bảo mà sinh tâm cung kính, cúng dường, phụng dưỡng gọi là Kính điền. đối với những người nghèo khổ, bần cùng tỏ lòng thương sót, bình đẳng cứu giúp, khiến họ thoát khổ gọi là Bi điền.
Hai là Báo ân phước điền: Đối với cha mẹ, sư trưởng cho đến những người có ơn đối với ta thì phài hiếu kính, phụng dưỡng, đem các vật chất để cúng dường , giúp tinh thần an ổn thì mình sẽ được tăng trưởng phước báo đó gọi là báo ân phước điền. Cung kính Tam Bảo, công đước thù thắng sẽ được phước lớn, đó gọi là công đức phước điền. đối với hạng người bần cùng của thế gian, thương sót giúp đỡ, cho họ những vật cần thiết, cứu giúp những lúc hoạn nạn, thì sẽ tích phước rất nhiều, đó gọi là bần cùng phước điền.
Ba là Thú điền, Khổ điền, Ân điền và Đức điền: Đối với tất cả sức sanh, yêu thương, giúp đỡ bình đẳng gọi là Thú điền. đối với những người đang bị buồn khổ, bình đẳng cứu giúp thì gọi là Khổ điền. đối với cha mẹ, sư trưởng thì hiếu thuận cung kính, cúng dường, hầu hạ thì gọi là Ân điền. đối với Tam bảo thì cung kính cúng dường thì gọi là Đức điền.
Bốn là trong kinh Phạm võng đã ghi lại: 1. Phật, 2. Thánh nhân, 3. Hòa thượng (thọ giới bổn sư), 4. sư trưởng, 5. Tăng nhân, 6. Cha, 7. Mẹ, 8. người bệnh. Đối với 8 hạng người ở trên mà sanh tâm cúng kính, bố thí cúng dường, yêu thương giup đỡ thì có thể sanh vô lượng phước đức cho nên gọi là phước điền. nhưng trong 8 loại phước điền đó thì chăm sóc người bệnh là phước điền lớn nhất. khi đức Phật còn tại thế, ngài đã từng chăm sóc và lo thuốc thang cho tỳ kheo bị bệnh, rồi ngài Ngộ Đạt quốc sư đời nhà Đường cũng do lòng từ bi mà chăm sóc cho một vị tăng bị bệnh ghẻ lở, giúp cho vị đó hết đau khổ và sự xa lánh của mọi người. cho nên người nào muốn tu phước thì phải chú ý đến phước điền chăm sóc người bệnh.
Người tu phước, ngoài việc gieo trồng thật nhiều phước điền, thích làm việc thiện và bố thí, còn phải có lòng từ bi đối với tất cả, bởi vì tất cả chúng sinh đều có ân với chúng ta. Cơm ăn, áo mặc hay việc đi lại của chúng ta điều phải dựa vào việc cung cấp của mọi người, nếu như người nông dân không làm ruộng, người công nhân không dệt vải, giao thông không thuận tiện thì người buôn bán không thể vận chuyển được hàng hóa, chúng ta sẽ không có cách giải quyết được nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Nếu như không có sự dạy dỗ, chỉ bảo của sư trưởng thì làm sao tăng trưởng tri thức. nếu như không có sự trừng phạt và ngăn chặn của pháp luật, dịch vụ y tế , giữ gìn trật tự cho đến việc thúc đẩy phát triển các tiện ích công cộng thì làm thế nào người dân sống và làm việc. Vì vậy mọi người không chỉ báo đáp ân của cha mẹ, sư trưởng mà còn phải báo đáp Ân của mọi người, vì vậy đức Phật dạy “ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân tam bảo, ân đất nước, ân chúng sanh đều phải báo đáp”. Giữa người và người nếu có tâm báo đáp, cung kính lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau thì đâu chỉ là trồng phước, vã lại mọi người đều có phước, rõ ràng là tạo phúc cho mọi người, phước lợi cho xã hội, phước báo đó thật là lớn và nhiều vô kể.
Hoặc có người nói “ nghèo khổ thì khó làm việc bố thí, tôi vốn rất thích tu phước, đáng tiếc là kinh tế khó khăn, xin dạy cho tôi trồng phước thế nào? Nên biết không chỉ có tiền mới làm phước được, bởi vì tiền bạc chỉ là một phần của tài thí, ngoài ra trong nhà vật chất dư thừa có thể bố thí, quần áo dư thừa có thể bố thí, người có tri thức có thể bố thí, người có sức khỏe cũng có thể bố thí.
Cung kính hầu hạ những người lớn tuổi ở trong nhà là tu phước, thương yêu giúp đỡ nhưng người nhỏ tuổi cũng là tu phước. Đến chùa lạy Phật là tu phước, giúp đỡ mọi người, quét dọn chùa tháp cũng là tu phước. Ở ngoài xã hội thì tuân giữ luật pháp là tu phước, giữa gìn bảo vệ đồ vật công cộng cũng là tu phước, thậm chí khuyên người làm thiện hoặc cứu giúp người lúc hoạn nạn đều là tu phước.
Người tu phước ngoài việc trồng nhiều phước điền lại còn phải biết tiếc phước, tích phước, chớ làm việc tổn phước. tục ngữ có câu “ có phước thì không thể hưởng hết”. nếu không thì vui quá sanh buồn, hết phước sẽ đọa, nếu người vô phước càng khổ hơn. Vì vậy, Phật giáo ngoài việc khuyên người gieo trồng phước, vun bồi phước, tích phước còn phải biết tiếc phước. tốt nhất là tu phước hữu lậu, tiến lên nữa là tu phước vô lậu. nhờ tu phước tiểu quả của nhân thiên rồi tiến lên tu phước rộng lớn của Phật đạo. Ngày xưa vua Lương Võ Đế hỏi tổ sư Đạt Ma rằng:
_ Từ khi tôi lên ngôi đến nay đã xây dựng rất nhiều chùa tháp, độ cho rất nhiều người xuất gia, vậy tôi được bao nhiêu phước đức?
Tổ Đạt Ma nói:
_Một tí công đức cũng không có.
Bởi vì tổ Đạt Ma cho rằng: “Nhân của hữu lậu thì chỉ đắc quả nhỏ của Nhân thiên, hết phước sẽ đọa trở lại. Đối với việc kiến tánh thành Phật chẳng bổ ích tí nào cả. cho nên tổ mới nói như vậy. Đáng tiếc là vua Lương Võ Đế chấp vào tướng bố thí nên không ngộ được ý chỉ của bậc thánh.
Đến như phước vô lậu là từ tâm vô lậu mà sanh, cho nên bảo tâm vô lậu là tâm vô ngã, dùng tâm vô lậu để làm việc bố thí chính là bố thí vô tướng. kinh Kim Cang có ghi: Bồ tát không trụ vào tướng bố thí cho nên phước đức lớn không thể nghĩ bàn. Lại nữa, đức Phật hỏi ngài Tu Bồ Đề :
_Nếu có người đem hết thất bảo trong tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, người ấy được bao nhiêu phước đức?
Tu bồ Đề trả lời:
_Dạ thưa, rất nhiều.
Đức Phật dạy: Nếu lại có người ở trong kinh này thọ trì cho đến 4 câu kệ rồi đem giảng nói cho người khác, phước đức của người nầy lớn hơn người kia. Vì sao?
_ Này Tu Bồ Đề ! tất cả chư Phật và pháp vô thượng chánh đẳng giác của chư Phật đều từ kinh này mà lưu xuất, cho nên phước của người đó rất lớn.
Tóm lại, nếu muốn trở thành người tốt, hay muốn thành Phật đi nữa thì điều trước tiên là phải Tu Phước.

Quảng Tráng

Suy nghiệm lời Phật: Sinh nhà tôn quý

Suy nghiệm lời Phật: Sinh nhà tôn quý

Đăng lúc: 08:27 - 21/12/2016

Chúng sinh theo nghiệp mà trôi lăn trong tam giới, lục đạo không dứt. Chính sự sinh tử luân hồi miên viễn là nỗi khổ lớn của chúng sinh. Người tu học Phật pháp với mục tiêu tối hậu là vượt thoát luân hồi, chứng quả vô sinh. Trong dòng sống hiện tại, con người vì ái, thủ, hữu mà tiếp tục tái sinh để chịu khổ đau, không thoát ra được bộc lưu sinh tử.
Dù rằng, tái sinh làm trời, người hưởng phước và tiếp tục tu học là một trong những mục tiêu quan trọng của người học Phật, nhất là hàng cư sĩ chuyên tâm hộ pháp. Nhưng bốn Thánh quả (Tu-đà hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán) mới chính là đích đến của đệ tử Thế Tôn, nhất là quả vị A-la-hán, chấm dứt luân hồi sinh tử. Nên Thế Tôn không nói đến thọ sinh dù cho đó là thượng, trung hay hạ. Vì “thọ sinh là rất khổ”, “một đời hai đời còn khổ nạn, huống gì lưu chuyển mãi mãi mà có thể cam chịu”.

a phathoc.jpg

“Một thời Phật ở tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Khi ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy lui ngồi một bên, giây lát sau rời chỗ ngồi, bạch Phật:

- Thế Tôn thường khen hào tộc cao quý, không nói đến thấp hèn. Song, bạch Thế Tôn, con không khen tôn quý, không nói thấp hèn, chỉ nói với hàng trung lưu khiến được xuất gia học đạo.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

- Thầy tự nói rằng không khen hàng tôn quý, không nói thấp hèn, chỉ nói hàng trung lưu được xuất gia học đạo. Nhưng nay Ta không nói về nơi thọ sinh thượng, trung, hạ. Vì sao thế? Phàm thọ sinh là rất khổ, không đủ mong muốn. Như đống phân kia chút ít còn rất hôi huống gì nhiều; nay sự thọ sinh cũng lại như vậy, một đời hai đời còn khổ nạn, huống gì lưu chuyển mãi mãi mà có thể cam chịu. Do hữu có sinh, do sinh có lão, do lão có bệnh có tử, lo buồn khổ não, có gì đáng tham ưa, bèn thành thân ngũ thạnh ấm. Nay Ta quán sát nghĩa này mà nói như thế. Một đời hai đời còn khổ nạn, huống gì lưu chuyển mãi mãi mà có thể cam chịu.

Này Xá-lợi-phất! Nếu có ý muốn thọ sinh, nên phát nguyện sinh trong gia đình hào quý, không sinh nơi ti tiện. Vì sao thế? Chúng sinh bị tâm ràng buộc lâu dài, chứ không bị hào tộc ràng buộc. Này Xá-lợi-phất! Như Ta ở trong gia đình hào quý, là dòng Sát-lợi Chuyển luân Thánh vương, nếu như Ta không xuất gia học đạo thì sẽ làm vua Chuyển luân. Nay Ta bỏ địa vị Chuyển luân Thánh vương, xuất gia học đạo thành đạo Vô thượng. Còn nếu sinh trong nhà thấp hèn, không được xuất gia học đạo thì trở lại bị rơi trong đường ác.

Cho nên, Xá-lợi-phất! Nên tìm phương tiện hàng phục tâm. Như thế, Xá-lợi-phất, nên học điều này!

Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập III, phẩm 51.Phi thường [trích],
VNCPHVN ấn hành, 1998, tr.571)

Tâm từ bi của Thế Tôn luôn bình đẳng. Bất cứ ai, dù cho ở hoàn cảnh nào cũng được hóa độ, trở thành đệ tử Phật và có cơ hội tu tập thành tựu giải thoát. Tuy nhiên, trong quá trình học đạo theo giáo pháp của Thế Tôn, không phải ai cũng dự phần vào các Thánh quả. Tùy theo căn cơ, tinh tấn nỗ lực cùng nhiều duyên lành khác trong tu học mà mỗi người có một kết quả khác nhau. Có người sau khi nghe pháp thoại liền chứng đắc, có người sau một thời gian tinh chuyên tu học mới dự vào Thánh quả, có rất nhiều người dù hết sức cố gắng nhưng vẫn chưa thành tựu được gì nhiều, nương vào nhân duyên tu học đời này để tái sinh vào nơi tốt đẹp mà tiếp tục cuộc tu.

Theo Thế Tôn, lý tưởng là tu tập chứng đắc Niết-bàn, giải thoát luân hồi sinh tử ngay trong đời hiện tại. Nếu chưa đạt được giải thoát, phải luân hồi tái sinh thì “nên phát nguyện sinh trong gia đình hào quý, không sinh nơi ti tiện”. Sinh trong nhà tôn quý ở đây là phải đi kèm với nguyện lực hướng về Tam bảo để tu học.

Thực tế cho thấy, cũng là người tu, nhưng người nào xuất thân với truyền thống gia đình có nền tảng đạo đức tốt, học vấn cao, kinh tế ổn, vẫn có “chất” hơn. Nói cách khác, phước báo hữu lậu cùng với hạt giống Phật pháp sẽ trợ duyên tích cực cho người tu hướng đến giải thoát.
Quảng Tánh

Tu tập để ra khỏi luân hồi sanh tử

Tu tập để ra khỏi luân hồi sanh tử

Đăng lúc: 07:59 - 08/10/2016

Người thế gian không hiểu nên thường oán trách cha mẹ không có phước nên sanh ra mình khổ, hoặc cha mẹ không có tài nên mình thua sút người ta, mà không biết chính mình thọ nhận quả báo đời trước đã tạo, nên mới sanh vào gia đình tương ưng như thế. Cha mẹ chỉ là phần phụ thôi, gốc ở bản thân chúng ta. Như vậy, thuyết luân hồi nói lên lẽ thực của kiếp người. Đức Phật đã thấy, đã nhớ rõ ràng nên nói ra cho chúng ta biết, chớ không phải do Ngài tự tưởng tượng, nhưng vì chúng sanh nhìn nông cạn quá nên không tin được.


- Chữ tu giữa đời thường
- Từ án mạng chùa Bửu Quang suy ngẫm bài "Tu là học xử lý khổ đau"

Khi biết rõ kiếp luân hồi như vậy, ai can đảm tạo thêm những nghiệp ác để chịu khổ hơn? Cho nên chúng ta phải tinh tấn làm những điều lành, điều thiện. Nếu không làm cho ai, ít ra ta cũng giữ được phần mình, đừng phạm những giới phải đọa lạc. Đó là tu. Đức Phật thấy rõ sự nguy hiểm của luật nhân quả luân hồi nên chỉ cho mình đường lối tu, chớ không phải áp đặt chúng ta. Khi quy y thọ năm giới, quý thầy hỏi Phật tử “giữ được không”, quý vị giữ được thì nói “dạ được”, nếu giữ chưa được thì làm thinh, chớ đâu có ép. Vì giữ giới là giữ cho mình, không phải giữ cho Phật.
Tu tập để ra khỏi luân hồi sanh tử
Đi sâu vào tâm lý mỗi người, chúng ta sẽ thấy mình đã từng quen thuộc, ưa thích với những việc làm của thuở quá khứ. Ví dụ như bản thân tôi, tại sao lại thích tu? Người đời lớn lên lo chuyện làm ăn hoặc lập gia đình, tại sao mình không thích những chuyện ấy mà lại thích đi tu? Như vậy là từ đời quá khứ ta đã tích lũy hạt giống Phật, nên bây giờ luôn nhớ việc tu. Rõ ràng chúng ta không quên hết nhân quá khứ, nhân nào chứa sâu đậm sẽ trở thành sở thích, việc làm của mình trong đời này.

Có người ra đời thích làm lành, có người ra đời lại hung dữ. Mỗi người thích mỗi cách, đó là do sự tích lũy của quá khứ khác nhau. Quá khứ đã tích lũy sẵn nên bây giờ nó hiện ra. Quý Phật tử kiểm lại xem, nếu do gien cha mẹ sanh ra là yếu tố duy nhất tạo thành những đứa con sau này, thì cha mẹ bệnh tật gì con cũng phải bệnh tật y hệt như thế. Tâm hồn của con do cái gì tạo? Có nhiều cha mẹ rất hiền nhưng con không hiền. Hoặc ngược lại cha mẹ dữ mà con lại hiền. Những sự khác biệt đó nhà Phật gọi là nghiệp tích lũy của quá khứ, chúng ta mang theo khi thọ sanh. Những gì mình đã chứa chấp đời trước, bây giờ nó hiện ra rõ ràng. Như hai anh em ruột, thể xác giống chút chút mà tâm hồn không giống nhau. Như vậy mới thấy mỗi người sanh ra mang một nghiệp khác nhau, từ đó có những sai biệt khác nhau.

Thế thì trên nẻo luân hồi muốn đi đường tốt, không đi đường xấu, chúng ta phải làm sao? Thấy người đáng ghét ta nên xử sự thế nào? Nên nghĩ rằng họ có làm gì hại mình mà ghét. Ghét người như vậy là ta đã có ý nghĩ xấu. Nếu tiếp tục nuôi dưỡng ý nghĩ này, sanh chuyện với người ta là cái cớ để tạo thêm nghiệp. Nếu mọi người đều biết tu như vậy thì gia đình, xã hội đẹp biết bao nhiêu.

Nhà Phật nói nghiệp từ thân, miệng, ý mà sanh, trong đó ý chủ động tạo nghiệp. Miệng nói tốt xấu cũng từ ý, thân làm tốt xấu cũng từ ý. Ý là nói chung cho tất cả những phân biệt thương ghét, buồn giận, hơn thua, phải quấy… đều từ ý nghĩ của mình. Chúng ta chạy theo ý nghĩ là chạy theo nghiệp. Ý nghĩ xấu nên nói bậy, làm bậy; ý nghĩ tốt nên nói lành, làm lành. Khi thân hoại, nghiệp vẫn không hoại, vì nó đâu có tướng mạo mà hoại, nên sẽ theo ta thọ sanh ở đời sau. Nhà Phật gọi là mang nghiệp đi trong luân hồi sanh tử. Vậy muốn chấm dứt nghiệp phải điều phục được ý thức của mình.

Tăng Ni trong thiền viện ngồi thiền cốt để định cái ý đó, nên gọi là thiền định. Tất cả những nghĩ suy lăng xăng, lộn xộn bắt nó lặng xuống hết. Chưa lặng thì điều phục lâu dần nó sẽ lặng. Nó lặng rồi thì nhân tạo nghiệp không còn, nhân tạo nghiệp không còn thì quả luân hồi sanh tử chấm dứt, gọi là giải thoát sanh tử.

Muốn biết có luân hồi hay không, chúng ta cứ nghiệm trong tâm niệm của mình sẽ rõ. Cha mẹ sanh thân được mà không thể sanh tâm niệm của con. Tâm niệm đó từ đâu ra? Từ sự tích lũy của đời trước. Nhiều người ngạc nhiên tại sao con còn nhỏ mà không chịu ăn mặn? Ngược lại, có kẻ cha mẹ khuyên ăn chay thì ăn không được, một ngày cũng ăn không nổi. Đó là do tích lũy từ trước, bây giờ gặp lại thấy quen, thấy thích, chớ không phải bỗng dưng mà có.

Tích lũy tức là những gì đời trước mình đã từng làm từng huân tập. Đời này trở lại những thứ ấy không mất. Vì vậy trong kiếp luân hồi chúng ta theo nghiệp mình đã tích lũy, chất chứa mà hiện ra thành tâm hồn cá biệt của mỗi người. Nên nói đến luân hồi chúng ta đừng suy gẫm gì hết, cứ nhìn lại nội tâm mình thì biết ngay. Tại sao người đó chưa quen thuộc mà mình thấy dễ thương, hoặc kẻ kia cũng chẳng quen thuộc mà mình thấy phát ghét. Vì chúng ta không nhớ nổi, nên nói không biết tại sao kỳ vậy. Thật ra do nghiệp tích lũy của quá khứ chiêu cảm nên.

Trên đời này ai không có những người thân, những kẻ thù. Có thân, có thù gặp lại nhau là khổ. Người thân thì mình thương, người thù thì mình ghét. Nhiều người nói tại sao anh chị có duyên quá, xin cái gì cũng được. Còn tôi vô duyên xin cái gì cũng không ai cho. Tại mình hay tại trời đất xui khiến. Chẳng qua hồi trước mình hất hủi thiên hạ, bây giờ tới phiên người ta hất hủi lại mình. Bình đẳng thôi. Như vậy mình tạo nghiệp lành, nghiệp dữ không đợi đời sau mới trả quả mà ngay hiện tại cũng ứng hiện quả báo phần nào. Đó là một lẽ thực.

Trong kinh kể lại Tôn giả Mục Kiền Liên khi chứng A-la-hán rồi, một hôm Ngài đi trên đường thấy có loài quỷ đầu rất to, bụng lại nhỏ xíu, thân thể ghê gớm lắm. Ngài về thuật lại với Phật, Phật nói ta cũng thường thấy chúng, nhưng nói không ai biết nên ta không nói. Những người tu chứng tới đó thì thấy như nhau, không phải chỉ riêng Phật. Nếu chúng ta đem con mắt phàm phu so sánh với con mắt Thánh nhân thì thật là quá thô thiển. Như những luồng điện đi trên hư không, mình thấy không? Không, mà nó vẫn có. Cho nên chúng ta không nên tin vào con mắt còn rất hạn chế của mình. Có những cái hiện thực mà mình chưa thấy, chưa hiểu được. Thế nên chớ vội cho cái thấy nghe của mình là đúng.

Nhiều người nói thương Phật quá nên tôi tu. Phật khổ cái gì mà thương? Chính mình mới khổ đây nè. Mình khổ, mình thương mình, mình tu chớ không phải thương Phật. Chúng ta mang ơn Phật chỉ đường cho mình tu, chớ không phải vì Phật mà tu. Mỗi vị tự kiểm điểm lại bản thân, xem hiện giờ mình đã thực hiện được những gì Phật dạy, xứng đáng đi đường nào? Như vậy tự biết mai kia khổ hay vui rồi, đâu cần phải hỏi ai. Phật tử có bệnh cứ thắp nhang cầu Phật độ cho con đời sau được sung sướng, hết khổ, mà cứ tạo nghiệp ác. Làm sao Phật cứu độ được?

Nhiều người không hiểu, cứ ngỡ ngồi thiền yên lặng cả ngày vô lý quá. Nhưng họ không ngờ chính đó là nhắm thẳng gốc để trị. Trị gốc được rồi thì sẽ dứt nhân, quả theo đó cũng không còn. Cho nên nói đạo Phật là đạo giải thoát. Giải thoát là dứt hết những mầm tạo nghiệp hoặc thiện hoặc ác, dẫn đi trong sanh tử. Phật dạy phải dừng những suy nghĩ đó lại thì cái chân thật hiện ra. Đó là mặt thật xưa nay của mình. Thật đơn giản!

Thế thì quý thầy, quý cô ở chùa vì quyết tu giải thoát nên phải tập ngồi thiền hoặc niệm Phật cho được nhất tâm. Nhất tâm thì đâu còn nghĩ bậy, đó là nhân giải thoát luân hồi sanh tử. Quý Phật tử không theo đạo Phật thì thôi, đã theo thì phải nắm vững đường lối Phật chỉ dạy, tu cho đúng. Phải chọn con đường hợp với khả năng của mình, từng bước tu tập theo lời chỉ dẫn của Phật. Có thế mới không sợ ngày mai đường trước tối tăm, không biết lối đi. Quý vị khéo ứng dụng tu, cần phải phát tâm dũng mãnh, bền bỉ thực hành cho tới bao giờ thành tựu mới thôi.

Chúc tất cả Tăng Ni, Phật tử mau chấm dứt khổ luân hồi sanh tử.

HT.Thích Thanh Từ

Bậc chân tu đạo cao đức trọng quỷ thần kính sợ

Bậc chân tu đạo cao đức trọng quỷ thần kính sợ

Đăng lúc: 11:03 - 05/09/2016

Người xưa tu hành có đạo đức cao thượng tôn quý, khiến thiên long quỷ thần cảm động, tự nhiên đến ủng hộ. Vì thế, đạo đức là tôn quý nhất ở thế gian, nên có câu: "Đạo cao long hổ phục. Đức trọng quỷ thần khâm".
Quỷ thần cùng con người, mỗi loài đều có pháp giới tôn quý ty tiện khác nhau. Tại sao chư thiên, quỷ thần lại tôn trọng, cung kính pháp giới loài người? Diệu tánh linh minh vốn chẳng phân biệt mình người, đều đồng quy về nhất thể. Chỉ vì vô minh bất giác, mê muội nguồn chân, mới phân mười pháp giới, tức sáu phàm bốn thánh. Nếu muốn xả mê về ngộ, phải xoay về cội nguồn. Song, trình độ giác ngộ của mỗi pháp giới không đồng. Trong pháp giới của con người, có kẻ giác và bất giác, cũng có kẻ chánh tri kiến và tà tri kiến. Pháp giới chư thiên và quỷ thần cũng như thế. Tuy nằm trong sáu loài phàm phu, nhưng pháp giới con người lại vượt trội năm pháp giới khác.

Chư thiên cõi trời Lục Dục vẫn còn đam mê tham ái nữ sắc, quên mất việc tu hành. Trời Tứ Thiền Thiên thì lại tham đắm thiền vị, quên mất con đường minh ngộ chân tâm. Trời Tứ Không Thiên thì lại lạc vào thiên chấp biến không, quên mất chánh tri kiến. A Tu La còn nhiều sân hận. Chúng sanh trong đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thọ bao khổ nhọc, khiến chẳng có chánh niệm, thì làm sao tu hành? Cõi người khổ nhọc vui sướng không đồng, nhưng so với các cõi khác thì dễ dàng giác ngộ hơn, nên có thể minh tâm kiến tánh, siêu phàm nhập thánh. Chư thiên quỷ thần tuy có thần thông phước báo nhiều ít không đồng, nhưng đều tôn trọng người có đạo đức và cùng ngưỡng mộ chánh pháp.

Thiền sư Nguyên Khê, kết am tại Nhạc Bàng Ô, đã từng truyền giới cho thần núi. Trong bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, viết: "Ngày nọ, có một dị nhân, đầu đội mão rộng, thân mặc cân đai, dẫn rất nhiều người, thư thả đi vào am, bảo rằng muốn yết kiến Đại Sư. Thấy hình mạo kỳ lạ phi thường, Đại Sư hỏi:

- Lành thay! Nhân giả vì cớ gì mà đến đây?


Thần đáp:

- Đại Sư nhận ra con không?

- Ta chỉ dùng mắt bình đẳng mà quán chư Phật cùng tất cả chúng sanh, sao lại có phân biệt!

- Con vốn là thần trụ núi này, và cầm nắm sanh tử con người trong vùng. Đại Sư có nhận biết không?

- Ta vốn vô sanh, ông làm sao giết được? Thân Ta đồng với hư không, cùng đồng với thân ông. Ông có thể phá hoại hư không cùng thân của mình không? Chẳng thể được! Thân Ta bất sanh bất diệt. Ông chưa có thể làm được như thế, sao cầm nắm sanh tử của ta?

Thần cung kính cúi đầu thưa:

- Con là vị thần rất mực thông minh chánh trực, há lại không biết Đại Sư có trí huệ quảng đại sao? Nay mong cầu Đại Sư hãy truyền chánh giới, con xin lãnh thọ.

- Ông khất cầu giới, tức đã đắc giới. Tại sao? Ngoài tâm không có giới, sao cần cầu giới?

- Nghe lý này, con thật mê muội, chỉ cầu Đại Sư truyền giới để con trở thành đệ tử của Ngài.

Đại Sư lên tòa, ngồi ngay thẳng, tay cầm bình hương trầm, bảo:

- Hôm nay truyền năm giới cấm, nếu ông phụng trì được, thì đáp rằng con giữ được. Ngược lại, hãy đáp rằng không giữ được.

Thần thưa:

- Con kính cẩn thọ giáo.

- Ông có thể giữ giới cấm dâm dục được không?

- Con vẫn còn có vợ.

- Chẳng phải thế! Ta bảo là không nên tà dâm.

- Con giữ được.

- Ông có thể giữ giới cấm ăn cắp được không?

- Con đâu có thiếu gì, sao lại đi ăn cắp?

- Không phải vậy! Hưởng thụ mà không tham lam quá độ. Không được cúng, chớ nên gieo họa cho người hiền.

- Con giữ được.

- Ông có thể giữ giới cấm giết hại được không?

- Con đang nhậm chức phán sát, sao không thể giết hại được?

- Không phải thế! Chẳng nên lạm dụng quyền thế, giết hại người hiền.

- Con giữ được.

- Ông có thể giữ giới cấm nói láo được không?

- Tâm con chất trực, sao lại đi nói láo?

- Không phải thế! Không nói láo tức lời nói trước sau đều hợp với tâm của trời đất.

- Con giữ được.

- Ông có thể giữ giới cấm uống rượu được không?

- Con giữ được.

- Trên đây là những giới cấm do Phật chế. Có tâm phụng trì mà vô tâm chấp vật. Có tâm vì vật, mà vô tâm nghĩ tưởng thân. Nếu được như thế, thì lúc trời đất vừa thành lập, chẳng tinh khiết. Lúc trời đất tan hoại thì chẳng già. Biến hóa ngày đêm mà không động. Cứu cánh tịch mặc mà chẳng ngừng nghỉ. Ngộ được như thế, tuy có vợ mà chẳng phải thê thiếp. Tuy hưởng thụ, mà chẳng chấp thủ. Tuy có oai quyền mà chẳng lạm dụng uy thế. Tuy làm mà chẳng tạo. Tuy say rượu mà chẳng hôn mê. Nếu vô tâm nơi muôn vật, tuy nhiều dục mà chẳng dâm; tham lam quá độ mà không phạm tội ăn cắp; lạm quyền giết lầm người mà không phạm tội sát. Trước sau ngược với trời đất mà không vọng dối. Hôn vọng điên đảo mà chẳng say. Đó gọi là vô tâm. Vô tâm thì vô giới. Vô giới tức là vô tâm, vô Phật, vô chúng sanh, vô nhân, vô ngã, vậy thì ai là người trì giới?

- Thần thông của con thật không thể sánh bằng Phật.

- Trong mười phần thần thông, ông không thể làm được năm phần, còn Phật thì không thể làm ba phần.

Nghe thế Thần bèn quỳ xuống thưa:

- Cầu xin Đại Sư kể rõ cho con nghe.

Đại Sư hỏi:

- Ông có thể khiến mặt trời mọc ở hướng tây, lặn ở hướng đông không?

- Không thể.

- Ông có thể lấy đất năm đỉnh núi mà kết thành bốn biển không?

- Không thể.

- Phật có thể chuyển tất cả tướng không thành muôn pháp trí, mà không thể diệt định nghiệp. Phật có thể biết sự việc của chúng sanh cùng tận ức kiếp, mà không thể giáo hóa những kẻ vô duyên. Phật có thể độ vô lượng loài hữu tình mà không thể diệt tận pháp giới chúng sanh. Đó là ba việc mà Phật không thể làm được. Định nghiệp cũng không lâu. Kẻ vô duyên cũng có kỳ. Pháp giới chúng sanh vốn không tăng không giảm. Không ai có thể làm chủ tất cả pháp. Có pháp mà vô chủ, nên gọi là vô pháp. Vô pháp vô chủ, cũng gọi là vô tâm. Nay giải thích về Phật, Ta cũng chẳng có thần thông, chỉ dùng vô tâm mà thông đạt hết muôn pháp.

- Con thật rất ngu muội, chưa từng được nghe nghĩa không. Đại Sư truyền giới, con vâng giữ phụng hành. Ngày nay, con nguyện muốn báo đáp ân đức từ bi của Đại Sư, nên sẽ hiển hiện chút ít thần thông.

- Ta quán thân vô vật, quán pháp vô thường, sao cần cầu chi nữa?

- Nếu Đại Sư cho phép, con sẽ triển chuyển chút ít thần thông, để khiến người đã phát tâm, vừa phát tâm, chưa phát tâm, chẳng có tín tâm, đã có tín tâm, biết được có Phật, có thần có năng lực thần thông, không có năng lực thần thông, có tự nhiên, không có tự nhiên.

- Không được! Không được!

- Phật cũng sử dụng thần thông để truyền pháp, sao Đại Sư chẳng làm theo? Xin Đại Sư rũ lòng dạy bảo.

Đại Sư bất đắc dĩ bảo:

- Chùa Đông Nham có chướng ngại là cỏ dại rậm rạp mà chẳng có cây cối to lớn; đằng sau lưng chùa lại không có chỗ tựa. Ngọn núi phía bắc có rất nhiều cây cối. Ông có thể di chuyển cây cối bên hướng bắc qua đỉnh núi phía đông không?

Thần thưa:

- Xin vâng mạng! Giữa khuya, con sẽ thổi chúng đi, mong Đại Sư chớ sợ!

Nói xong, Thần liền đảnh lễ tạ từ lui ra. Tăng chúng trong chùa, vừa đưa Thần ra cửa, thì thấy có rất nhiều người, đứng hai hàng dài, đi theo hầu. Tướng Thần oai vệ uy nghi như vua chúa, xung quanh thân sương khói xông lên mù mịt, mây ngũ sắc quấn chằng chịt, trên đầu có tràng phan ngọc bội. Thần bay lên hư không rồi biến mất. Tối đến, quả nhiên mây kéo đến ùn ùn, mưa to gió lớn, sấm sét nổi lên, mái nóc đều lung lay rung động, khiến chim chóc cầm thú la hoảng. Đại Sư bảo đại chúng:

- Chớ sợ! Chớ sợ! Thần làm theo ý ta.

Sáng hôm sau, trời trong mưa tạnh; tất cả cây cối bên phía bắc đều được dời hết qua đỉnh núi phía đông, mọc tủa xum xuê khắp nơi. Đại Sư thấy thế, bảo đệ tử:

- Sau khi Ta mất, chớ kể chuyện này cho người ngoài nghe. Nếu họ biết được, sẽ cho Ta là yêu quái.

Quý vị hãy xem, thần tuy có thần thông, nhưng không bằng người có đạo đức. Thế nên bảo rằng "đức trọng quỷ thần khâm". Người không có đạo đức, bị quỷ thần quản chế, thọ bao hiểm họa. Người có đạo đức, lại muốn minh tâm kiến tánh, thì tự nhiên sẽ cảm động quỷ thần. Chư thiền sư đại đức xưa nay, tu hành kinh thiên động địa, khiến hươu nai dâng hoa, khỉ vượn cúng trái. Thiên ma ngoại đạo, chư tiên quỷ thần, đều đến quy y, như Chân tổ sư quy y Quán Âm, Tài Thần quy y Phổ Hiền, Động Tân tiên sư quy y Hoàng Long, Vương Linh Quang quy y Địa Tạng, vua Văn Xương quy y Phật Thích Ca, v.v... Do đó, hoàng đế Nhân Tông triều Tống viết bài kệ phú tán thán chư tăng đại đức: "Những bậc tôn quý nhất trên thế gian, không ai bằng những vị xả tục xuất gia.

Nếu được làm tăng sĩ, thì mới thọ sự cúng dường của trời người. Làm đệ tử của đấng Thế Tôn, tức là quyến thuộc của tiên thánh, vào nơi cửa vàng, đến cung điện bảo tạng. Hươu trắng dâng hoa, khỉ vượn cúng trái. Xuân nghe chim hót líu lo, vang tiếng diệu nhạc cơ trời. Hạ nghe ve kêu trên cây cao, liền biết mùa nóng đã đến. Thu ngắm trời xanh, gió trong trăng sao chiếu sáng. Đông xem tuyết phủ đảnh núi sông ngòi. Ngồi thiền trên bồ đoàn, thân ấm áp. Dẫu sóng ba đào nổi dậy, vẫn cỡi tích trượng thăng hư không. Mười đại quân ma khi nghe danh, vẫn phải hàng phục, quy y chánh đạo. Vang tiếng gõ bản, bèn lên vân đường lễ cúng. Nghe tiếng chuông, bèn lên chánh điện tụng kinh. Mọi việc đều như ý, muôn loại hiện thành. Lúc sống làm thầy trời người. Lúc chết quyết định quy y thánh quả. Kệ viết:

"Không Vương đệ tử Phật
Quyến thuộc chư Như Lai
Thân mặc y trăm mảnh
Miệng ăn ngàn bát cơm
Tối ngủ giường vô úy
Sáng thấy Phật A Di Đà".

Nếu Trẫm được như vậy, thì rất là mãn nguyện".

Trên đây là lời văn tán tụng chư tăng đại đức của hoàng đế Nhân Tông. Chúng ta tự hãy xem xét mình có tương ưng điểm nào với bài văn phú tán thán này không? Nếu hạnh mình đều tương hợp với lời văn trên, thì mới có thể thọ sự tôn kính của quỷ thần. Nếu "sóng ba đào khởi", như khi vô minh dấy lên, mà không thể "mở tích trượng, phóng lên hư không", khiến làm náo loạn cả trời đất, thì thật xấu hổ cùng cực. Ngược lại, nếu "mười đại ma quân" làm phiền hà, khiến chẳng được như ý, và bao việc chẳng thành tựu, mà có thể hàng phục chúng, thì trời rồng tám bộ quỷ thần đều tôn trọng cung kính.

Thiền sư Hư Vân

Phật dạy: Đừng vì miếng ăn mà gieo nên ác nghiệp khổ đến kiếp sau

Phật dạy: Đừng vì miếng ăn mà gieo nên ác nghiệp khổ đến kiếp sau

Đăng lúc: 21:03 - 28/07/2016

Nhà Phật luôn khuyên con người hướng thiện, làm nhiều việc tốt để tích phúc tích đức, trong đó có việc ăn chay. Ăn chay là tạo phúc, bớt nghiệp, và đừng vì miếng ăn mà kết tạo nên ác nghiệp.

Ẩm thực là nhu cầu cơ bản của sự sống, nhất định không thể thiếu nhưng đừng vì miếng ăn mà tạo ác nghiệp. Sát sinh là một trong những nghiệp ác hàng đầu đối với Phật giáo. Chúng sinh bình đẳng mà dùng vũ lực uy hiếp, cướp đoạt tính mạng của loài khác quả thật không phải chuyện tốt lành. Sát sinh không chỉ là tạo nghiệt mà đối với bản thân mình cũng sẽ làm giảm phúc khí, nhất định gánh quả báo.

Vì thế, Phật khuyên chúng sinh nên ăn chay, tránh ăn mặn. Ăn chay không chỉ tạo phúc báo, gieo nghiệp lành mà còn tốt cho sức khỏe, phòng ngừa các bệnh tim mạch và nhiều chứng bệnh hiểm nghèo khác. Những việc hiếu, hỉ, đầy tháng vốn là chuyện tốt, chuyện vui, cần phải chiêu phúc nhưng vì cỗ bàn linh đình nên không những mất phúc mà còn gánh thêm họa.

Phật dạy: Đừng vì miếng ăn mà gieo nên ác nghiệp khổ đến kiếp sau
Mỗi sinh mạng đều quý giá như nhau
Nói đến vấn đề ăn thịt, trong nhiều kinh Đại Thừa, Phật từng giảng rất rõ. Như trong kinh Phạm Võng ghi: “Tất cả thịt đều không nên ăn. Nếu Phật tử cố ăn thịt, vừa thấy liền lánh xa. Bồ-tát không nên ăn thịt chúng sanh, vì ăn thịt có vô lượng tội!”

Còn trong Kinh Lăng Già, Phật giảng: “Ta xem chúng sanh như con, nếu nghe lấy thịt làm thức ăn, cũng chẳng tùy hỉ, huống nữa là tự ăn. Đại Huệ, tất cả các loại ngũ tân: hành, hẹ, tỏi, nén…thường xông hơi xú uế bất tịnh, làm chướng Thánh đạo, chướng cả chỗ trú thanh tịnh của trời, người, thế gian….huống chi là cõi Tịnh của Chư Phật? Rượu cũng thế, hay làm chướng thánh đạo, gây tổn thiện nghiệp, thường khiến sinh nhiều lỗi….Đại Huệ! Thế nên người hành Thánh đạo thì các thứ đồ mặn, rượu, thịt, hành, tỏi… tanh hôi đều chẳng nên dùng.”

Người sống trên đời vốn phúc báo đã không đủ, vậy hà cớ gì mà còn tạo thêm ác nghiệp vì miếng ăn. Ăn thêm một miếng là ác nghiệp dày thêm một phần. Hơn thế nữa, có những người còn hành động dã man, cư xử thiếu nhân văn như ăn sống nuốt tươi, săn bắt thú rừng,… để thỏa mãn nhu cầu ăn uống mà không biết rằng, những việc ấy sẽ khiến bạn phải gánh quả báo sau này.

Hiện nay, việc ăn chay đã không còn khó khăn khi có rất nhiều loại thực phẩm tươi ngon, phong phú, đa dạng cùng với cách chế biến những món chay hết sức thơm ngon, dễ làm. Đây là điều kiện thuận lợi để những người vốn ăn mặn có thể từ từ làm quen với việc ăn chay. Nếu chưa quen thuộc, có thể chưa ăn chay trường ngay mà ăn chay theo kì như ngày Rằm, mùng 1, các tuần chay.

Phật dạy: Đừng vì miếng ăn mà gieo nên ác nghiệp khổ đến kiếp sau
Học Phật, tâm Phật và đừng gieo nghiệp ác cho muôn đời sau
Ăn chay tạo phúc, ăn chay trừ ác nghiệp, vừa tốt cho sức khỏe lại có thiện tâm thiện báo. Nếu khó khăn trong việc ăn chay, thì ít nhất, cũng tự sửa đổi bản thân trong thói quen ẩm thực, giảm mặn, thâm chay, không ăn thịt động vật hoang dã, các loài động vật quý hiếm hay có những hành động dã man.

Người sống trên đời, chỉ có phúc hơn là tốt, thiện hơn là hay chứ đừng vì niềm vui nhất thời mà ác nghiệp chồng chất. Hãy ăn sao cho tâm thiện, thân thiện, cuộc đời thanh thản.

Vì vậy cho nên, chúng ta cần nên tỉnh thức mà kịp thời sám hối, phát nguyện phóng sinh để đền trả túc trái tiền khiên từ đời này và từ muôn đời trước, một việc làm cấp thiết chẳng được hững hờ. Phần nhiều các Kinh điển, chư Phật đều luôn luôn khuyến tấn hàng đệ tử phát nguyện phóng chư sinh lọai để trả nợ oan gia, giải thù liễu óan để tăng trưởng được Bồ đề tâm mà tiến tu trên con đường Thánh đạo. Kinh Dược Sư Bổn nguyện công đức dạy rằng: “ Phóng chư Sinh mạng, Bịnh đắc trừ dũ. Chúng nạn giải thóat, Phóng sinh tu phước, linh độ khổ ách, bất tao chúng nạn” Có nghĩa rằng: Phóng các lòai chúng sinh thì mọi bịnh đều trừ được, các tai nạn đều tiêu tan, nhẫn đến người quá vãng cũng được thóat ly đường khổ không còn vướng vào các ác nạn.

Tâm yên không phải là vô cảm

Tâm yên không phải là vô cảm

Đăng lúc: 19:34 - 29/06/2016

Khi đề cập đến sự bình tâm, tâm yên, điều quan trọng là đừng nhầm lẫn nó với sự vô cảm. Đúng hơn, bình tâm là một trạng thái tâm mà trong mối liên hệ với người khác, người ta thoát ra khỏi những thành kiến có gốc rễ rất sâu liên quan đến sự đam mê thái quá hoặc ghét bỏ thái quá.
ducphat1.jpg

Có hai phương pháp chính để thực tập sự bình tâm. Một phương pháp giống như khi làm vườn, người ta san bằng đất đai để cây cối chúng ta trồng mọc đều và tươi tốt. Mục đích của nó là xóa bỏ khuynh hướng của chúng ta quen định nghĩa mối tương quan giữa chúng ta với người khác theo các tiêu chí bạn, thù, người lạ. Phương pháp thứ hai là phát triển nhận thức về sự bình đẳng căn bản giữa mình và người khác: tất cả đều là những con người với khát vọng hạnh phúc và mong ước tránh khổ đau (…)

Những người mà chúng ta xem là kẻ thù hôm nay, có thể sẽ không còn như thế trong tương lai, và những người bạn ngày nay, ngày mai có thể cũng không còn như thế. Hơn nữa, cảm giác của chúng ta đối với những bạn bè, chẳng hạn như yêu mến, có thể gây rắc rối cho chúng ta, trong khi đó thì tương tác với kẻ thù lại có thể đem đến lợi ích, làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn, tỉnh táo hơn. Suy nghĩ về những sự phức tạp như vậy có thể đưa bạn đến những suy nghĩ về tính chất vô ích khi quan hệ với người khác theo những thái độ cực đoan - cho dù họ thuộc nhóm thứ ba, hay thậm chí là nhóm thứ nhất.

Một khi chúng ta thấy rằng mối quan hệ với người khác như thế ngăn cản bản thân phát triển thiện chí đối với họ và tạo ra một tác động tiêu cực trên tâm trí của mình, chúng ta sẽ cố gắng làm giảm bớt sức mạnh của các cảm giác mang tính chất cực đoan. Qua một thời gian, trong mối quan hệ với người khác, chúng ta sẽ không còn liệt họ vào nhóm bạn bè hay kẻ thù nữa, mà như những đồng loại, những con người với tính chất bình đẳng căn bản.

Dalai Lama (theo Bên ngoài tôn giáo

TP.HCM: Trang nghiêm tưởng niệm Bồ-tát Thích Quảng Đức

TP.HCM: Trang nghiêm tưởng niệm Bồ-tát Thích Quảng Đức

Đăng lúc: 08:06 - 27/05/2016

Tại Văn phòng Ban Thường trực HĐTS GHPGVN phía Nam - thiền viện Quảng Đức, Q.3, TP.HCM, chư tôn giáo phẩm HĐCM, HĐTS, BTS GHPGVN TP.HCM, Tăng Ni, Phật tử, môn đồ pháp quyến đã trang nghiêm cử hành lễ tưởng niệm lần thứ 53 ngày Bồ-tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân và hiệp kỵ chư Thánh tử đạo do Ban Thường trực HĐTS GHPGVN kết hợp BTS GHPGVN TP.HCM tổ chức vào sáng nay, 26-5 (nhằm ngày 20-4-Bính Thân).

ANH BT (3).JPG

ANH BT (2).JPG
Chư tôn đức HĐCM, HĐTS, BTS PG TP, quan khách tham dự

Quang lâm chứng minh và tham dự có sự hiện diện của chư tôn giáo phẩm: HT.Thích Đức Nghiệp, Phó Pháp chủ HĐCM; HT.Thích Trí Quảng, Phó Pháp chủ HĐCM, Trưởng ban Trị sự GHPGVN TP.HCM; HT.Thích Hiển Tu, Phó Thư ký HĐCM; HT.Thích Viên Giác, HT.Thích Giác Tường, đồng UVTT HĐCM.

HT.Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch HĐTS GHPGVN; HT.Thích Thiện Pháp, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS kiêm Trưởng ban Tăng sự T.Ư; HT.Thích Thiện Tánh, Phó Chủ tịch HĐTS, Phó Trưởng ban Thường trực BTS PG TP; HT.Thích Thiện Tâm, HT.Thích Giác Toàng, đồng Phó Chủ tịch HĐTS, chư tôn đức Văn phòng II TƯGH, ban, viện T.Ư, BTS PG tỉnh Long An, Bình Dương; 24 BTS PG quận, huyện TP.HCM; chư Tăng Ni các trường hạ TP.HCM, môn đồ pháp quyến Bồ-tát Thích Quảng Đức.

Đến dự lễ tưởng niệm còn có các ông: Đỗ Văn Phớn, Phó Vụ trưởng Vụ Tôn giáo Ban Dân vận T.Ư; Trần Tấn Hùng, Phó Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ; Nguyễn Văn Tính, Phó Trưởng ban Dân vận Thành ủy TP; Nguyễn Ngọc Phong, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN TP; Phạm Quang Đồng, Phó Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng ban Tôn giáo TP; Nguyễn Văn Trãi, Phó Bí thư Thường trực Quận ủy Q.3 cùng đại diện các ban, ngành, đoàn thể quận 3.

ANH BT (5).JPG
Chư tôn đức tham dự lễ tưởng niệm Bồ-tát Thích Quảng Đức

ANH BT (4).JPG
HT.Thích Thiện Pháp cung tuyên tiểu sử Bồ-tát

Tại lễ tưởng niệm, HT.Thích Thiện Pháp, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS kiêm Trưởng ban Tăng sự T.Ư đã cung tuyên tiểu sử Bồ-tát Thích Quảng Đức (1897-1963). Theo đó nêu lại hành trạng của Bồ-tát từ khi ngài mới xuất gia cho đến khi ngài thiêu thân đòi bình đẳng, hòa bình cho dân tộc, sự trường tồn của Đạo pháp.

Theo đó, năm 15 tuổi, Hòa thượng thọ giới Sa-di, năm 20 tuổi thọ giới Tỳ-kheo và Bồ-tát giới, được Hòa thượng Bổn sư ban pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hành Pháp, pháp hiệu Quảng Đức.

Suốt cuộc đời hành đạo ở miền Trung và miền Nam, Hòa thượng đã khai sơn, trùng tu, xây dựng 31 ngôi chùa. Ngôi chùa cuối cùng nơi ngài trụ trì là chùa Quán Thế Âm, quận Phú Nhuận, TP.HCM. Sinh thời, ngài được thỉnh giữ chức Kiểm Tăng cho Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa; Phó Trị sự và Trưởng ban Nghi lễ Giáo hội Tăng già Việt Nam, trụ trì chùa Phước Hòa (trụ sở đầu tiên của Hội Phật học Nam Việt).

ANH BT (6).JPG
Mô đồ pháp quyến Bồ-tát Thích Quảng Đức

Ngày 11-6-1963 (nhằm ngày 20-4-Quý Mão), trong cuộc diễu hành trên 8.000 vị Tăng Ni để đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo và sự tôn trọng lá cờ Phật giáo, cùng sự thực thi 5 nguyện vọng chân chính của Phật giáo nên ngài đã quyết định thực hành hạnh nguyện tự thiêu, cúng dường cho Đạo Pháp và đồng thời chứng tỏ những nguyện vọng chính đáng của Phật giáo…

Chính vì tâm nguyện này, bằng tinh thần đại hùng, đại lực, đại từ bi, vô úy của đạo Phật, ngài đã tẩm xăng tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt, Sài Gòn (nay là ngã tư Cách Mạng Tháng Tám - Nguyễn Đình Chiểu, Q.3), ngọn lửa thiêu thân ngài trở thành ngọn lửa vô úy – ngọn lửa Bồ-tát Thích Quảng Đức, trái tim Xá-lợi để lại trở thành trái tim bất diệt trong lòng Tăng Ni, Phật tử khắp năm châu.

ANH BT (7).JPG
HT.Thích Thiện Nhơn đọc lời tưởng niệm

Trong không khí trang nghiêm, thành kính hướng về Bồ-tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân và chư Thánh tử đạo đã xả thân cho sự trường tồn của Đạo pháp, HT.Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch HĐTS GHPGVN thay mặt TƯGH và BTS GHPGVN TP.HCM đọc lời tưởng niệm.

“Bằng đức đại hùng, đại lực, đại từ bi của Bồ-tát, ngài đã lấy tình thương xóa bỏ hận thù, lấy tình thương phủ lên sắt thép, lấy tình thương hóa giải bất công, tàn bạo, góp phần thành công cho cuộc đấu tranh đòi bình đẳng, tự do tín ngưỡng tôn giáo… Thắm thoát, 53 năm đã trôi qua, dù không gian có biến dịch, thời gian có đi qua, quá khứ đã lui về dĩ vãng, lịch sử có sang trang, nhưng công đức mà Bồ-tát và chư Thánh tử đạo đã hy sinh cho Đạo pháp trường tồn, chúng sinh an lạc, tự do tín ngưỡng được tôn trọng sẽ còn sống mãi trong lòng người con Phật Việt Nam và lịch sử Phật giáo Việt Nam cùng thế giới”- Hòa thượng nhấn mạnh.

Ngày nay, con đường được mang tên Thích Quảng Đức, chạy ngang qua chùa Quán Thế Âm, quận Phú Nhuận và Tượng đài công viên Bồ-tát Thích Quảng Đức tại Q.3, là dấu ấn sự kiện cách nay 53 năm Bồ-tát đã tự thiêu thân cho sự trường tồn của Đạo pháp. Đó là một minh chứng hùng hồn cho lịch sử, mà thế hệ trước cũng như những thế hệ sau của nhân dân thành phố, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, TP.Hồ Chí Minh mãi mãi ghi nhớ và trân trọng công đức của Bồ-tát đã hy sinh cho Đạo pháp và Dân tộc.

ANH BT (9).JPG
Chư tôn giáo phẩm niêm hương tưởng niệm

ANH BT (12).JPG
Thành kính tri ân công đức của Bồ-tát cho Đạo pháp và Dân tộc

Tại lễ đường, TT.Thích Lệ Trang, Phó ban Nghi lễ T.Ư, Trưởng ban Nghi lễ PG TP đã thành kính xướng lễ cúng dường, chư tôn giáo phẩm HĐCM, HĐTS, BTS PG TP cùng quý khách đã thành kính niêm hương tưởng niệm công đức sâu dày của Bồ-tát đối với Đạo pháp và Dân tộc. Toàn thể đạo tràng chí thành dâng nén tâm hương tưởng niệm, nhất tâm tụng khóa Bát-nhã cúng dường Bồ-tát Thích Quảng Đức và chư Thánh tử đạo đã xả thân cho sự trường tồn của Đạo pháp.

Ngọn lửa thiêng hùng tráng, vô úy, từ bi của Bồ-tát Thích Quảng Đức và pháp thân lồng lộng của ngài, gương hy sinh cao cả của chư thánh tử đạo sẽ soi đường cho GHPGVN và Tăng Ni, Phật tử Việt Nam hoàn thành sứ mạng lịch sử thiêng liêng trọng đại, phát triển Giáo hội vững mạnh, trang nghiêm, ổn định trong lòng dân tộc.

ANH BT (11).JPG
Đại diện các ban, ngành T.Ư, TP.HCM niêm hương tưởng niệm

ANH BT (10).JPG
Phật giáo TP.HCM, các tỉnh, thành về tham dự lễ tưởng niệm

Bo-Tat Thich Quang Duc (12).JPG
Quý Ni trưởng, Ni sư thành kính tưởng niệm

ANH BT (1).JPG
HT.Thích Thiện Tánh thay mặt Ban Tổ chức đọc lời cảm tạ

Sáng nay, 26-5, tại tổ đình Quán Thế Âm, quận Phú Nhuận, trú xứ cuối cùng của Bồ-tát Thích Quảng Đức, chư Tăng, Phật tử đã trang nghiêm cử hành lễ tưởng niệm Bồ-tát Thích Quảng Đức.

H.Diệu - Ảnh: Bảo Toàn

Cảm nghĩ ngày Phật đản 2560 - 2016

Cảm nghĩ ngày Phật đản 2560 - 2016

Đăng lúc: 09:06 - 13/05/2016

Dòng đời cứ cuồn cuộn hay lặng lẽ mãi miết TRÔI, và mọi cảm nhận tiếp thụ của con người vẫn cứ lan CHẢY bất tận theo thời gian, tưởng chừng chẳng phút giây dừng nghỉ, và nếu có chăng thì chỉ trong một thoáng xa xôi mơ hồ đâu đó, rồi cũng lao vào vòng xoay của bao ý niệm trong cuộc sống đầy vật vã, tranh đấu, bon chen, toan tính.v.v... như bánh xe càng đi tới là càng quay tròn trở lại.
Mùa xuân, nay trông như vội vã đi qua “Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục...”, thời tiết đã chuyển sang tháng năm (5) đang hắt hiu, nghe ấm dần lên bởi khí trời man man ngọn gió trưa hè ngang qua thềm mây trắng. Trông cái cảnh con người vẫn tất bật lao vào cuộc sống như bao ngày tháng hôm nào, vẫn xôn xao nhập cuộc vào giữa hai chiều ngược xuôi, lên hay xuống, còn hay mất, thất bại hay thành công... như để lo toan, tìm kiếm, đong đo, trang trải những điều gì trong chốn cuộc phù sinh.

Đương lúc thế giới xã hội loài người ngày hôm nay, mỗi lúc càng phát sinh nhiều nỗi bất an, lo âu, và sợ hải trong dòng TRÔI, CHẢY của thời gian đương là nầy... Nào là những cuộc chiến tranh bùng nổ giữa các thế lực vùng Trung Đông, Bắc Phi, Syria, Iaraq, Lybia, Ai Cập, Yemen, Tunisia, Thổ Nhỉ Kỳ, đến khu vực Châu Âu, Ukraina.v.v...cả khu vực Châu Á, Đông Nam Châu Á, cũng không kém phần chú ý cả thế giới về tình hình Biển Đông hiện nay. Nói chung, gần như khắp cả trời Châu lục.

Đồng thời, song song với những sự việc trên, sự đe doạ về sức mạnh từ nơi con người tạo ra các loại võ khí nguyên tử của những nước có thế lực hàng đầu, các loại võ khí sát thương có sức công phá, tàn phá, và tầm xa tối tân hiện đại, các loại tàu chiến, tàu ngầm siêu tốc tung hoành hùng hậu giữa đại dương, các loại cơ giới, các loại phi cơ chiến đấu trang bị đầy đủ phương tiện chiến tranh, phô trương diễu hành lao vút vào không gian bao la vô tận.v.v...

Chưa kể đến nạn đói khát, nạn thất nghiệp, nạn mua bán người, trẻ em, các loại thức ăn, vật dụng tiêu dùng ướp tẫm những chất độc hại... cùng với những hình thức khủng bố, đàn áp, chiếm đoạt, cướp lấy bởi những ý niệm cuồng tín, cực đoan chủ nghĩa, tôn giáo, đảng phái, chủng tộc, đã và đang phát sinh từ sự cuồn nộ của sân tưởng, của hại tưởng, và của tham tưởng, bởi do một số người có quyền lực trong tay, cùng với sự xu hướng theo thế thời, có được chút ít địa vị, lợi danh mọn tạm bợ, để hưởng thụ, thỏa mãn các dục nơi cuộc sống thế gian, hoăc từ những trạng thái bệnh hoạn tâm lý trầm cảm, thất sủng.v.v...

Tất cả đều do tạo tác (nghiệp), và phải bị chi phối của dòng nghiệp lực ấy, một khi đã được nuôi dưỡng, đã được tích tụ nhiều thời gian khi ngang qua cuộc sống. Hay cụ thể hơn, chính là thiếu ý thức bình đẳng, tình thương, thiếu sự tiếp thu nhận và trao phương pháp giáo dục đạo đức, không thấu suốt những phương hại về sau, làm tổn giảm hay mất đi nhân tính, và thăng bằng tâm lý từ bản thân, gia đình, đến cộng đồng xã hội, mà hôm nay chúng ta đã và đang thấy biết những gì trên hành tinh khi con người và muôn vật đang có mặt nầy.

Cùng khi ấy, hiện nay không ít số người, nhóm người, phần nhiều chỉ biết dựa dẫm vào niềm tin cầu nguyện, van xin, nhờ vào sự cứu giúp của những phép lạ thần quyền, để thoả mãn lòng mong cầu cho sở thích lạc thú thường tình ở đời. Đôi khi, trong ấy còn có số người đã khoát lên pháp phục tôn giáo, đóng vai nhẹ tênh với hình thức đời sống phạm hạnh, không có năng lực tu tập, để chuyển hoá thân tâm, tự mình không an trú chánh pháp lạc, không giúp người an trú chánh pháp lạc, rồi vẽ vời những hình thức tín ngưỡng, cầu nguyện, cúng tế, phù phép để chiêu cảm lòng tin v.v... đánh lạc mất phương hướng đạo lộ chánh kiến, chánh pháp giải thoát của đạo Phật hay chư Phật tự ngàn xưa.

Thế nhưng, lại cũng ngay trong thời điểm này “MÙA XUÂN THÁNG VESAK”, thời điểm mà cách nay trên 2560 năm tại vườn Lâm Tỳ Ni gần thành Ca Tỳ La Vệ, thuộc Cộng Hoà Dân Chủ Liên Bang Nepal ngày nay. Và hiện nay, trên khắp hành tinh nhân loại, đối với hàng tứ chúng đệ tử đức Phật, những người có niềm kính tin chân chính đến với Giáo lý, Tam bảo, vì sự nghiệp truyền đăng giáo nghĩa của bậc đạo sư tối thượng, có học hiểu pháp học, có thực tập các pháp hành từ lời dạy đầu tiên, do đức Phật tuyên thuyết trong thế gian, như một thông điệp về Bốn Diệu Thánh Đế, “vì Đức Như Lai đến đây chỉ là bậc đạo sư”. Nên tự mình biết điều phục thân tâm, giúp người biết điều phục thân tâm, và như lời Phật đã dạy :

“Người trị thuỷ dẫn nước
Kẻ làm tên nắn tên
Người thợ mộc uốn gỗ
Bậc trí nhiếp tự thân.” (trích kinh Pháp Cú - 80).


Như vậy, con người dù ít nhiều có khơi dậy mầm chủng tánh Từ bi, Bình đẳng, thường tìm lại chính mình, cũng sẽ đem lại bình an cho thế giới loài người, mà còn làm cho bầu dưỡng khí của hành tinh thêm trong sạch, tươi mát hơn, không bị ô nhiễm, không làm tổn giảm môi sinh, môi trường sinh thái, các dòng sông không bị chết, các vùng đất không bị chết, con người có những tư duy hiền thiện, trong xanh... không gây oan trái để phải thêm tội, thêm thù, không tạo tác các việc làm ác quấy, mê lầm theo các loại kiến hoặc, kiến kiết phược, kiến kiết sử, kiến trù lâm.v.v… để phải chịu quả báo trả vay khổ luỵ, tàn hại, nhiệt não, để rồi phải theo dòng TRÔI - CHẢY trong cuộc hành trình sinh tử.

Một điều khác nữa, bậc đạo sư cũng thường giúp cho chúng ta dễ phát hiện, dễ phản tỉnh, dễ cảm nhận nguồn tâm lý chính nơi tự thân, để từ đó chúng ta có sự quán chiếu, nhận ra những cảm giác về thân, về các thọ, và tâm của người khác hay cả chúng sinh, như:

“Mọi người sợ hình phạt
Mọi người sợ tử vong
Lấy mình làm ví dụ
Không giết, không bảo giết” (trích kinh Pháp Cú - 129).

Vì thế, trước đây, hiện nay, và cho đến tận mai sau, với bao nguồn sinh lực dồi dào trong sáng, hướng thiện của hằng triệu triệu tâm hồn nhân loại luôn ngưỡng vọng, tôn kính đến ngày thị hiện vào đời của Đức Từ Phụ (Thích Ca Mâu Ni), vẫn thường trụ trong sáng, rực sáng với đại nguyện Bi - Trí - Dũng, như lời tán thán:

“...Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama !... Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được sắc...” Kinh Trung Bộ I, bài số 4.

Không nhằm ngoài mục đích hướng dẫn, tiếp độ chúng sinh, chư thiên và loài người trên 2500 năm trước đây, cho đến tận bây giờ và miên viễn mai sau. Vẫn luôn phát khởi nguồn năng lực Bồ đề, thành kính và tu tập, gieo và kết nối hạt Từ tâm, cùng tu tập Pháp của bậc Thánh, để cùng vượt thoát mọi khổ ách, đạt đến an lạc tối thượng, hầu chấm dứt dòng TRÔI - CHẢY trong vòng luân hồi theo sáu đường, ba cõi, hay ít nhiều cũng được tịnh trú lạc pháp của bậc Thánh nơi thế giới vô thường, sinh diệt này, bằng một ý niệm nghĩa cử trong mỗi chúng ta, rằng:

Sự xuất hiện của đức Phật như một thông điệp TÌNH THƯƠNG - BÌNH ĐẲNG - TRÍ TUỆ - HÒA BÌNH cho nhân sinh và vũ trụ.

Atlanta, Phật đản 2560 – 2016.
Mặc Phương Tử

Phật dạy 10 nghiệp lành giúp con người gặp may mắn, hạnh phúc cả đời

Phật dạy 10 nghiệp lành giúp con người gặp may mắn, hạnh phúc cả đời

Đăng lúc: 09:30 - 19/04/2016

Theo giáo lý Nhân Quả của Đạo Phật, nếu muốn mình được khỏe mạnh, giàu sang, thông minh, sáng suốt, may mắn, hạnh phúc… thì con người phải gieo những nhân thiện lành, tránh điều xấu ác.



Phật dạy 10 nghiệp lành giúp con người gặp may mắn, hạnh phúc cả đời.

Dưới đây là 10 nghiệp lành Đức Phật đã chỉ ra cho hàng Phật tử tại gia giúp thọ nhận quả báo an vui, hạnh phúc:

1, Không sát sinh

Là không giết người và các con vật lớn như trâu, bò, ngựa, chó... Phật dạy không sát sinh bởi nhiều lý do – Tôn trọng sự công bằng – Tôn trọng Phật tánh bình đẳng – Nuôi dưỡng lòng Từ Bi – Tránh nhân quả báo ứng, oán thù.

Người hay sát sinh phải thọ nhận những quả báo xấu như thọ mạng ngắn, hay gặp tai nạn, bệnh tật, gặp những điều xui xẻo không may mắn thậm chí còn đọa địa ngục.

2, Không trộm cắp

Là không lấy vật không thuộc sở hữu của mình, mà không có sự ưng thuận hay cưỡng ép người ta ưng thuận bằng thế lực hay quyền hành của mình. Người không trộm cắp được quả báo giàu sang, an ổn.

3, Không tà dâm

Không tà dâm nghĩa là không chung sống với người không phải là vợ hay là chồng của mình. Những việc quan hệ nam, nữ không được pháp luật và xã hội thừa nhận đều được xem là tà dâm.

Lạc thú của việc tà dâm là nhất thời nhưng quả báo của nó lại rất khủng khiếp.

Một người có thể có mệnh phú quý, nhưng nếu phạm tội tà dâm, có thể trở nên khốn khổ lao đao suốt cuộc đời. Một người có mệnh được hưởng phúc và thọ, nhưng nếu phạm tội tà dâm, có thể bị tật nguyền hay chết yểu...

4, Không nói dối

Những lời nói dối đưa đến chém giết, hận thù, làm cho người tán gia, bại sản, phá vỡ bình yên, hạnh phúc của người khác, hay đưa đến ganh ghét, đố kỵ… đều chịu những quả báo rất cay đắng.



Nếu như người Phật tử tại gia Quy Y Tam Bảo giữ 5 giới thì người xuất gia (tu sĩ) phải thọ 250 giới đối với các vị tăng và 348 giới với vị ni.

Người Phật tử Quy Y Tam Bảo (Quy Y: quay về nương tựa, Tam Bảo: 3 ngôi báu Phật, Pháp, Tăng) nghĩa là thực hiện 5 giới cấm: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.

Nhiều người không dám Quy Y vì sợ không giữ được giới và sợ bị trừng phạt. Tuy nhiên đây là quan niệm sai lầm. Đức Phật là người thày, không phải thần thánh có thể ban phúc, giáng họa.

Giống như người mẹ nghiêm khắc, cấm con nhỏ không sử dụng dao sắc nhọn hoặc không chơi với ổ điện, đồ điện... Đức Phật chế ra 5 giới cấm không phải để ràng buộc, trừng phạt mà đó là tấm lá chắn bảo vệ đệ tử.

Nếu như người Phật tử tại gia Quy Y Tam Bảo giữ 5 giới thì người xuất gia (tu sĩ) phải thọ 250 giới đối với các vị tăng và 348 giới với vị ni.

Chúng ta giữ 5 giới đã thấy khó khăn, vất vả, trong khi các vị xuất gia tu hành chân chính, giữ giới, sống đời phạm hạnh. Hiểu điều này, chúng ta phải có thái độ kính trọng, chuẩn mực với người tu. Như vậy, chúng ta mới có phước báu.

5, Không vu oan, vu cáo

Lời nói dối, ban đầu, có thể do tham sân nhưng lên đến cấp độ vu oan, vu cáo thì tham sân đã mãnh hơn nhiều. Việc này khiến chúng ta trở nên mù quáng, đánh mất nhân tính, rời xa đạo đức, luân lý và lẽ phải ở đời.

6, Không thâm thọc

Người không nói điều thâm thọc mà hòa nhã giúp mọi người yêu thường, đoàn kết với nhau sẽ được mọi người yêu quý, kính trọng.

7, Không nói thô ác

Lời cộc cằn, thô lỗ, chửi rủa, mắng nhiếc... là biểu hiện của người thiếu văn hoá, thiếu giáo dục, thiếu lễ giáo nề nếp. Những lời nói ấy làm đau lòng người khác, đưa đến sự xô xát, đánh nhau.

Người có học thức, hiểu biết, có tu tập sẽ không nói những lời này. Người Phật tử phải dịu dàng, từ ái, khiêm tốn dễ nghe.



Người thực hiện được 10 nghiệp lành trên thì cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh sẽ vĩnh viễn đóng lại.

8, Không gian tham

Lòng tham được thể hiện qua những thái độ sau:

- Không bằng lòng, không vừa ý, không thỏa mãn với những gì mình đang có

- Luôn cảm thấy thiếu thốn, muốn có thêm vật này, vật kia...

- Luôn luôn dòm ngó của cải, tài sản của kẻ khác.

- Luôn muốn vơ vét, chiếm đoạt, cướp giật của cải tài sản của người.

Lòng tham khiến con người luôn cảm thấy bất an, đau khổ thậm chí là bất chấp làm mọi điều để thỏa mãn chính mình. Có thể nói lòng tham là nguyên nhân của mọi tỗi lội.

Muốn chấm dứt các khổ đau, phiền não thì phải biết vĩnh viễn từ bỏ lòng tham này.

9, Không sân hận

Sân hận có nhiều trạng thái, mức độ và biểu hiện khác nhau, ví dụ như: bực tức, giận hờn, nổi nóng, oán hận, căm thù… có khi biểu hiện qua nét mặt (nhíu mày, nhăn mặt, trợn mắt, nghiến răng…), thái độ, lời nói (la lối, quát tháo, gào thét, dọa nạt…), cử chỉ, hành động (quăng ném đồ đạc, hành hạ, giết chóc…), nhưng cũng có khi lại không biểu hiện ra mà được giữ kín trong lòng.

Đức Phật xem sân hận là một loại độc tố có khả năng tàn phá tâm hồn và thể xác con người không chỉ trong đời này mà cả những đời sau.

Trong kinh, Đức Phật thường gọi sân cùng với tham, si là ba độc. Đức Phật còn ví sân như lửa dữ, như giặc cướp, như rắn độc: “Sân hận còn hơn lửa dữ, thường phải đề phòng không cho nó xâm nhập. Giặc cướp công đức không gì hơn giận dữ…

10, Không si mê

Người không si mê là người biết phán đoán, nhận định một cách rõ ràng, đúng đắn, không biện minh che đậy sự mê mờ, dốt nát của mình và cũng không cố chấp vào kiến thức chủ quan của mình.

Người không si mê là người có trí tuệ thông minh thấu suốt nhân quả, luân hồi nên không bao giờ tạo tội ác, và luôn luôn có những hành vi rất thiện, thường tu Thập Thiện và sẵn sàng mang lòng từ bi đến mọi người.

Người thực hiện được 10 nghiệp lành trên thì cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh sẽ vĩnh viễn đóng lại. Đời đời kiếp kiếp được sống hạnh phúc, vui vẻ, được sinh Thiên, đi đâu cũng gặp Phật pháp, thiện trí thức bằng hữu hoặc những duyên lành, phước lành.

Xuân Thu

Đạo đức căn bản của người Phật tử

Đạo đức căn bản của người Phật tử

Đăng lúc: 06:22 - 19/11/2015

Chúng ta đang sống trong thời văn minh vật chất, chủ nghĩa thực dụng đang xói mòn đạo đức, lương tâm con người. Ta đang sống và hành động theo lý trí mà không biết đang đi vào tội ác, nhiều khi mình không biết đó là tội ác.

Những kế hoạch dày đặc, những công việc gấp rút, làm cách nào thu nhập thật cao để thỏa mãn vật chất đến độ những người khác ngước nhìn. Nếu cần thì sẵn sàng bội ước, đốn ngã tình bạn, lừa đảo… miễn sao lợi ích về phía mình càng nhiều càng tốt.
Đức Phật vì từ bi đã truyền trao cho hàng Phật tử tại gia năm chuẩn mực đạo đức. Không phụ thuộc vào trình độ, tuổi tác, dân tộc, tôn giáo, không gian và thời gian, bất cứ ai cũng có thể tuân theo những lời dạy này, vì đó là đạo đức xã hội. Tuy vậy, nếu không tuân thủ theo lời Phật dạy thì Ngài cũng không hề trừng phạt mà tất cả chỉ vận hành theo luật nhân quả.

Vâng theo năm điều Phật dạy chắc chắn sẽ có cuộc sống bình an, trật tự trong gia đình, ngoài xã hội được thiết lập. Không chỉ riêng hàng đệ tử Phật, xã hội cũng cần theo năm chuẩn mực đạo đức này, vì đây là căn bản của mối liên kết thiện lành của cá nhân và xã hội. Cá nhân mỗi người có cuộc sống hiền lành, hạnh phúc thì xã hội mới an vui.

Năm chuẩn mực đạo đức là rào cản để con người không nhúng tay vào tội ác, để thực thi tính công bằng, bình đẳng, lòng từ bi, tránh được nhân quả báo ứng, oán thù, bao gồm: Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không say nghiện.

Không giết hại

Chuẩn mực đạo đức thứ nhất, Phật dạy chúng ta không giết hại con người cho đến con vật. Sự sống đáng quý biết bao nên không thể giết người cướp của hay bất cứ lý do gì. Không giết hại các loài vật để con người được ăn ngon, mặc đẹp. Không giết hại những con vật để tỏ ra mình sang chảnh (thực ra là tàn bạo) như ăn món óc khỉ, hay uống rượu pha máu rắn. Không biết bổ béo ở đâu nhưng thấy con khỉ đau đớn dưới bàn hay con rắn quằn quại dưới tay người tôi chỉ nhắm mắt lại, trái tim tê buốt. Ta tàn nhẫn khi giết hại thú vật và từ đó trái tim ta cũng chai sạn, và một lần mê muội nào đó ta dễ dàng ra tay hạ thủ con người.

Không giết hại, tâm hồn chúng ta sẽ an bình, tâm yêu thương tràn ngập, nét mặt hiền hòa, ánh mắt trong sáng, tâm không giày vò hối hận, không gặp những cơn ác mộng. Trong xã hội sẽ không xảy ra cảnh chỉ cần xung đột nhỏ liền ra tay giết hại lẫn nhau. Cha mẹ biết tu và con cái cũng tu. Dạy con từ ngày còn nhỏ không bắt con bướm, cái ve… chơi đã thì vặt đầu, xé mình hàng năm bảy mảnh. Khi lớn tâm con sẽ an hòa và xử sự với mọi người chung quanh như chính với bản thân mình. Lòng từ bi thương người sẽ luôn luôn đồng hành với con trong cuộc sống.

Mình thực tập ăn chay và động viên cả gia đình cùng ăn chay, ít nhất một tháng được hai ngày. Chúng ta ngày ăn ít thịt, ít cá một chút, thêm chút rau cà. Một ngày ta ăn thêm một phần rau và giảm bớt một phần thịt. Dần dần, ăn chay trường được lại càng hay.

Không trộm cướp

Chuẩn mực đạo đức thứ hai, Phật dạy chúng ta không nên trộm cắp. Ai cũng biết trộm cướp là lấy những vật không thuộc quyền sở hữu của mình, lấy không có sự ưng thuận, hay ép buộc người khác để ta lấy vật họ sở hữu. Vật nhỏ như trái ớt, cọng hành, lớn thì vàng bạc, nhà cửa đất đai nếu không cho thì không được lấy. Vì ăn sang, mặc trọng cho đến nghiện hút mà người nghèo trộm cắp, giết người cướp của. Còn người giàu thì muốn tài sản mình càng lớn, ai cũng nể nên đang tâm tranh giành đất đai của cải của cha mẹ anh em gây bao đau đớn. Kẻ đa mưu lừa gạt người hiền lấy tài sản mà họ ki cóp cả đời. Bao nhiêu giấy tờ gian xảo tham nhũng của công biết bao nhiêu tiền bạc, tài sản mà đó là từng giọt mồ hôi của người lao động đóng thuế hàng ngày.

Người công nhân thì hàng ngày cầm về cái kéo, cuộn băng keo, tờ giấy; người buôn bán thì cân thiếu một chút; người có chức quyền thì nhũng nhiễu tiền bạc không sao đếm xuể; người nghèo túng giật những điện thoại, dây chuyền; trẻ con thì chơi game túng tiền về lấy tiền của ông bà cha mẹ. Có không ít người vì trộm cướp mà xấu hổ, bị bắt và bị phạt tù. Thế là cuộc đời tan nát, thế là tay đã nhúng chàm. Tội bản thân mình còn con cháu, anh em cha mẹ cũng bị mang tiếng theo.

Trộm cắp thời nào cũng có nhưng xã hội bình an chỉ có những trộm vặt. Còn khi xã hội bất an thì những vụ trộm cắp, cướp của giết người gần như xảy ra mỗi ngày. Chúng ta không trộm cướp thì chính ta và mọi người được sống một cuộc sống an lành. Không để ý ai giàu có rồi suy tính cách trộm cướp của họ. Chúng ta sẽ có một giấc ngủ ngon, xã hội nhờ đó mà được tốt đẹp hơn.

Không tà dâm

Đức Phật không dạy người Phật tử phải từ bỏ cuộc sống vợ chồng. Ngài dạy vợ chồng có cưới hỏi, sống với nhau chung thủy.

Cuộc sống tình cảm ngày nay nhờ internet, điện thoại mà những cuộc gặp gỡ rộng rãi hơn và tình cảm ngoài luồng phát sinh nhiều hơn. Do vậy, những cảnh vợ chồng bất hòa, lục đục, nghi ngờ, ghen tuông, thậm chí là giết nhau vì ngoại tình đã liên tục xảy ra.

Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc khi cả hai cùng hướng về nhau, cùng chăm sóc nhau, cùng vun vén cho con cái có cuộc sống đầy đủ về vật chất và thoải mái về tinh thần. Ai cũng mong mình có một gia đình trọn vẹn hạnh phúc. Do đó cũng không nên nhìn ngắm, tơ tưởng những người khác ngoài vợ chồng của mình. Những người giữ được hạnh không tà dâm, chuẩn mực đạo đức này sẽ giúp họ được người khác kính trọng và cuộc sống gia đình an vui, hạnh phúc.

Không nói sai sự thật

Chuẩn mực đạo đức thứ tư, Phật dạy chúng ta không nói sai sự thật. Nói sai sự thật có 4 cách: Nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác.

Nói dối là chuyện không nói có, chuyện có nói không, nói toàn điều dối trá.

Nói thêm thắt vào sự thật, đổi giọng sao mua được nước mắt người, nói làm sao người nghe xiêu lòng để mình được lợi là nói thêu dệt.

Nói lưỡi đôi chiều là nói kiểu đòn xóc hai đầu. Đến người này nói xấu chuyện người kia, đến người kia nói xấu chuyện người này khiến họ mâu thuẫn, oán thù nhau.

Nói lời hung ác là mắng chửi, nói lời độc địa, thô ác, cục cằn gây đau buồn cho người nghe.

Người nói đúng sự thật là người gây được niềm tin với người chung quanh. Kết quả những cuộc giao lưu, làm ăn được tin tưởng và sự thành công luôn đến với người chân thật. Dù chỉ là người bán hàng, một nhân viên văn phòng, một giám đốc kinh doanh… nếu giữ được hạnh không nói sai sự thật thì chắc chắn sẽ có cuộc sống bình an, không thắc thỏm giật mình.

Không say nghiện

Chuẩn mực đạo đức thứ năm, Phật dạy chúng ta không say nghiện. Ngoài rượu còn có các chất gây nghiện, gây kích thích khác đều không được dùng, hoặc nài ép người khác dùng. Các loại rượu và các chất hóa học gây kích thích khác chúng ta không dùng vì bảo toàn trí tuệ nòi giống, hạn chế tối đa các nguyên nhân gây nên lầm lỗi, tội phạm.

Khi uống rượu say hoặc nghiện ngập thì không đủ lý trí để xử lý bất cứ tình huống nào. Không nhận ra điều lành, điều dữ, cạn tình cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn. Say nghiện là một trong những nguyên nhân quan trọng gây xáo trộn trong gia đình, gây bất hòa với mọi người, gây tai nạn giao thông, làm rối loạn an ninh trật tự, gây tổn hại kinh tế cho gia đình và xã hội.

Người biết tuân thủ năm chuẩn mực đạo đức mà Đức Phật dạy là người biết sống an lạc, gia đình được hạnh phúc. Chính điều này đã góp phần đem hạnh phúc cho người xung quanh, đóng góp gìn giữ đạo đức và bình an cho xã hội. Đệ tử Phật là người luôn sống với tâm từ bi, đầy đủ năm chuẩn mực đạo đức, tâm tự lợi và lợi tha. Đây cũng là phẩm chất đạo đức căn bản của con người sống trong xã hội vốn nhiều cạnh tranh và biến động như hiện nay.

Xã hội ngày nay muốn phát triển bền vững, xây dựng đời sống cá nhân và cộng đồng hạnh phúc thì năm chuẩn mực đạo đức của Đức Phật cần được học tập, ứng dụng, phổ biến rộng rãi cho tất cả mọi người.
Kim Dung

Phát Triển tâm Giác Ngộ

Phát Triển tâm Giác Ngộ

Đăng lúc: 19:46 - 26/07/2015

Nguyên tác: Developing Bodhichitta, Tác giả: Alexander Berzin/ Moscow, Russia, October 2009

Những ngày cuối tuần này, chúng ta sẽ nói về các giới nguyện Bồ tát. Và rõ ràng nhằm để thông hiểu giới nguyện Bồ tát thì chúng ta cần hiểu Bồ tát là gì, và tâm giác ngộ là gì, trên điều mà nó căn cứ. Và trong mô thức ấy, chúng ta có nhiều, rất nhiều trích dẫn và nguồn gốc khác nhau chỉ ra vấn đề quan trọng như thế nào để thọ giới nguyện Bồ tát, để phát triển tâm giác ngộ - thọ và giữ giới Bồ tát - cho việc thành tựu Giác Ngộ.

Vậy thì tâm giác ngộ là gì? Tâm giác ngộ là một thể trạng của tâm có nhiều thành phần với nó. Khi chúng ta phát tâm giác ngộ, nó có hai phương diện. Trước tiên nhất chúng ta tập trung vào tất cả những chúng sanh bất giác với từ ái và bi mẫn. Từ ái là nguyện ước cho mọi người được hạnh phúc và có các nguyên nhân của hạnh phúc, và bi mẫn là nguyện ước cho họ được thoát khỏi khổ đau và các nguyên nhân của đau khổ. Chúng ta nguyện ước điều này bình đẳng cho tất cả mọi người.

Trong hình thức của khổ đau thì chúng ta nguyện cho họ loại bỏ được, chúng ta thấu hiểu điều này trong trình độ sâu sắc nhất. Không chỉ khổ não của bất hạnh và đau đớn (khổ khổ). Không chỉ khổ đau liên hệ với hạnh phúc thông thường, là loại hạnh phúc không bao giờ bền lâu, không hài lòng, và thứ thay đổi thành bất hạnh và khó chịu, thí dụ như khi chúng ta ăn quá nhiều thức ăn ngon và nó làm chúng ta bệnh thường (hoại khổ). Nhưng khổ đau mà chúng ta mong họ được thoát khỏi, thêm vào việc thoát khỏi hai thứ khổ đó, là nổi khổ đau cùng khắp (hành khổ - là thứ căn cứ cho việc trải nghiệm hai thứ khổ đầu tiên), đó là sự tái sanh tiếp diễn mãi không thể kiểm soát, được liên hệ như "luân hồi". Và điều này được tái sanh hết lần này đến lần khác dưới sự ảnh hưởng của bất giác si mê, cảm xúc phiền não, và những hành vi nghiệp chướng căn cứ trên điều này; là thứ rồi thì, bị ảnh hưởng dưới những nhân tố này, rồi thì chúng ta có loại thân thể và loại tâm thức là đối tượng để khổ đau bất hạnh và hạnh phúc không hài lòng thông thường là thứ mà chúng sanh trải nghiệm như kết quả của thái độ nghiệp chướng của chúng - thái độ nghiệp chướng là thái độ ở dưới sự ảnh hưởng của bất giác si mê về tiến trình nhân quả và bất giác về thực tại. Cho nên chúng ta nguyện ước cho người khác được giải thoát khỏi loại khổ đau sâu xa hơn và nguyên nhân của nó. Và nguyên nhân sâu xa nhất cho nó là sự bất giác về thực tại.

Và khi chúng ta có từ ái, thì chúng ta nguyện ước cho họ được hạnh phúc. Đó không phải là hạnh phúc thông thường không bao giờ thỏa mãn, mặc dù đó là tốt hơn cho họ thay vì phải trải nghiệm đau đớn và bất hạnh. Nhưng trên một trình độ sâu xa hơn, chúng ta nguyện cho họ được hạnh phúc của giải thoát và Giác Ngộ, là thứ hạnh phúc đến từ việc giải thoát khỏi những gì được biết như "những sự chướng ngại của tâm thức." Những sự chướng ngại được tạo ra bởi các cảm xúc phiền não, và đây là những thứ ngăn cản giải thoát - phiền não chướng. Và những chướng ngại ngăn cản thể trạng toàn tri toàn giác của một Đức Phật, là thứ ngăn trở họ với sự thông hiểu mối liên hệ hổ tương của mọi thứ, nhân quả, một cách hoàn toàn, những thứ họ cần biết nhằm để có thể hổ trợ chúng sanh một cách tốt đẹp nhất (sở tri chướng). Và khi chúng ta thoát khỏi những giới hạn này, khỏi hai tập họp chướng ngại này (sở tri chướng và phiền não chướng - hoặc một hay cả hai), thế thì đây là một niềm hoan hỉ vô biên không bao giờ chấm dứt. Nó là điều gì đó không giống như niềm sung sướng khi ăn một món ăn ngon: càng vui sướng khi ăn nhiều hơn, cuối cùng nó biến thành đau khổ. Nó hoàn toàn không giống như loại hạnh phúc, hạnh phúc thông thường. Và chúng ta nguyện cho họ có các nguyên nhân cho loại hạnh phúc không bao giờ chấm dứt trong giải thoát và Giác Ngộ.

Và lòng từ ái và bi mẫn cũng căn cứ trên sự thông hiểu và tin tưởng vững chắc rằng mọi người có thể giải thoát khổ đau và đạt được niềm hạnh phúc không bao giờ chấm dứt này. Thế nên đó không phải là một nguyện ước dễ thương mà chúng ta biết là không bao giờ có thể xảy ra trọn vẹn. Nhưng chúng ta tin chắc rằng điều ấy có thể. Và chúng ta đón nhận trách nhiệm cũng như có thể đem đến sự giải thoát khỏi khổ đau và đạt được hạnh phúc. Chúng ta tiếp nhận trách nhiệm và chúng ta có quyết tâm phi thường này rằng tôi sẽ làm việc ấy, ngay cả chỉ tự tôi mà thôi, nếu tôi cần hành động.

Đây là phương diện thứ nhất. Lòng từ ái và bi mẫn này và quyết tâm phi thường này mà chúng ta có trong phương diện thứ nhất, sẽ tiếp tục tiềm tàng, trong một ý nghĩa nào đó. Và trong phương diện thứ hai, là phương diện chính ở đây về tâm giác ngộ, chúng ta thay đổi sự tập trung của chúng ta và thay vì tập trung vào tất cả những chúng sanh giới hạn (nói cách khác, mọi người chưa thành Phật), bây giờ thay vì thế, chúng ta tập trung vào chính sự Giác Ngộ của cá nhân chúng ta vốn chưa xảy ra. Nhưng chúng ta biết rằng nó có thể xảy ra, chúng ta tin chắc về điều ấy. Nó có thể xảy ra trên căn bản của điều được biết như "Phật tánh". Phật tánh là nhân tố ấy sẽ cho phép chúng ta trở thành một Đức Phật, để phân thân thành vô số thân của một Đức Phật - một cách kỷ thuật là Sắc Thân, tâm của một Đức Phật, v.v…

Và điều này được liên hệ một cách căn bản với nền tảng tinh khiết của tâm. Rằng trong tính bản nhiên nền tảng căn bản của nó tâm không bị nhiễm ô bởi những giới hạn hay chướng ngại. Rằng những nhiễm ô này chỉ ở bề mặt và có thể được tẩy sạch đến mức chúng không bao giờ tái diễn lại. Nếu chúng ta có thể đánh thức và an trụ mãi mãi trong mức độ sâu xa nhất của tâm, không bị nhiễm ô - bởi vì mức độ mà tại đấy những nhiễm ô hay giới hạn hay si mê xảy ra là nông cạn hơn, những mức độ thô thiển hơn của tâm. Và tâm không bị nhiễm ô bởi những cung cách tồn tại không thể có. Và nếu chúng ta có thể thông hiểu điều ấy và an trú tập trung trên ấy, thế thì trên căn bản ấy, điều được gọi là "tánh không của tâm", và trên căn bản sự thông hiểu của chúng ta về tánh không ấy của tâm, sau đó chúng ta mới có thể an trú trong trình độ căn bản vô nhiễm ấy, trình độ ấy không bị nhiễm ô bởi những si mê tạm thời này (khách trần phiền não).

Trên căn bản của năng lượng vi tế nhất phối hợp với trình độ sâu xa nhất của tâm, và trên căn bản phước đức tích lũy và trí giác (jnana) là chính yếu, phước đức được thực hiện bởi sự tương tục tinh thần ở trình độ sâu xa nhất, rồi thì từ năng lượng vi tế nhất, chúng ta có thể phát sinh và biểu hiện những Sắc Thân khác nhau của một Đức Phật. Những Sắc Thân của một Đức Phật, những hiện tướng của một Đức Phật, cho dù thô hay tế, được hình thành từ năng lượng tinh khiết vi tế nhất. Các Sắc Thân có thể kết hợp với những nguyên tố thô (đất, nước, gió, lửa,…), nhưng không phải những nhân tố thô là Sắc Thân của Đức Phật, đó là năng lượng vi tế kết hợp với chúng, trên căn bản ấy. Okay, thế nào đi nữa, đó có lẻ là một sự giải thích rất cô đọng về Phật tánh. Tôi rất tiếc nếu như vậy là hơi quá nhiều thông tin trong một lúc, nhưng đó không phải là chủ đề chính trong sự thảo luận của chúng ta.

Nhưng trong bất cứ trường hợp nào, thì chúng ta đang tập trung vào khía cạnh này của sự tương tục tinh thần của chúng ta (dòng suối tâm), những khía cạnh của Phật tánh: tánh không của tâm, căn bản tinh khiết của tâm, năng lượng vi tế sâu xa nhất của tâm, mạng lưới của phước đức (năng lượng tích cực) và trí giác. Và trên căn bản ấy, chúng ta có thể quy cho sự Giác Ngộ chưa xảy ra là thứ mà chúng ta biết rằng chúng ta có thể đạt được, vì thế chúng ta sẽ có một sự Giác Ngộ xảy ra hiện tại, nếu chúng ta tăng cường và hoàn thành hai mạng lưới này, mạng lưới của phước đức và trí giác (phước trí lưỡng toàn). Vì thế đó là điều mà chúng ta đang tập trung với tâm giác ngộ. Và vấn đề chúng ta làm thế nào? Chúng ta làm điều ấy bằng việc hình dung sự Giác Ngộ chưa xảy ra này, sự Giác Ngộ của chính cá nhân chúng ta chưa xảy ra, không phải sự Giác Ngộ của Đức Phật Thích Ca hay của một vị nào đó trên bầu trời. Chúng ta có thể miêu tả nó bằng việc quán tưởng một Đức Phật (đó sẽ không là vị thông thường nhất) hay chúng ta có thể hình dung nó bằng vị thầy tâm linh của chính chúng ta, hay vị thầy của dòng truyền thừa, đang trình bày sự Giác Ngộ này cho chúng ta, hay chúng ta có thể chỉ (trong đại toàn thiện hay đại thủ ấn) tập trung trên căn bản tinh khiết của chính tâm thức, là thứ vô cùng khó khăn để thực hiện.

Đó là sự tập trung, đối tượng trọng tâm của tâm giác ngộ, sự Giác Ngộ chưa xảy ra, và có hai mục tiêu đi cùng với nó. Mục tiêu thứ nhất là thật sự đạt đến sự Giác Ngộ chưa xảy ra, và thứ hai là làm lợi ích tất cả chúng sanh trên căn bản ấy. Cho nên, nói cách khác, điều này dựa trên từ ái và bi mẫn và quyết tâm phi thường mà chúng ta phát triển trong phương diện thứ nhất. Và dĩ nhiên, cùng với việc thành tựu sự Giác Ngộ ấy, thì chúng ta sẽ cố gắng để hổ trợ người khác tối đa như có thể. Và giới Bồ tát sẽ cho chúng ta những hướng dẫn về vấn đề thực hiện như thế nào, làm lợi ích cho người khác tối đa như thế nào, và những gì phải tránh vì chúng sẽ làm tổn hại năng lực hổ trợ người khác của chúng ta. Và thật sự các giới nguyện luôn luôn được diễn đạt trong dạng thức của những gì để tránh có thể làm bất lợi đến sự phát triển tâm giác ngộ và sự giúp đở người khác của chúng ta.

Cho nên nhằm để phát triển thể trạng này của tâm Giác Ngộ và tiếp nhận các giới nguyện của Bồ tát, thì chúng ta cần, một cách rõ ràng, tự hành động tiến lên để có thể trạng của tâm giác ngộ. Và điều này dĩ nhiên căn cứ trên một tiến trình dài lâu của việc phát triển, sự phát triển tâm linh, với điều mà chúng ta nhận ra sự tái sanh con người quý gia mà chúng ta có, chúng ta nhận ra rằng nó sẽ không tồn tại mãi mãi, vì thế chúng ta thấu hiểu sự chết và vô thường; và chúng ta có niềm tin vững chắc tròn vẹn trong sự tái sanh, và chúng ta nhận ra rằng nếu chúng ta không có những lượng định ngăn ngừa nào đó (là những gì chữ " Dharma "có nghĩa) để tránh sự tái sanh tệ hại hơn trong tương lai, căn cứ trên thái độ tiêu cực của chúng ta, thì chúng ta sẽ tái sanh trong một hoàn cảnh mà chúng ta sẽ không có cơ hội để tiến xa hơn sự phát triển tâm linh của chúng ta. Cho nên chúng ta thông hiểu tất cả điều này, thì chúng ta sẽ tiếp nhận nó rất nghiêm túc. Và vì thế, nhằm để tránh sự tái sanh tệ hại hơn và để giúp chúng ta tiếp tục con đường tâm linh, chúng ta hướng đến một phương hướng an toàn trong đời sống của chúng ta; đó gọi là "quy y". Và phương hướng ấy được biểu hiện bởi Đức Phật, những thành tựu của một Đức Phật và những gì các Ngài dạy, và những ai đã hoàn thành những gì Đức Phật có, tối thiểu ở một mức độ nào đó; đó là Phật, Pháp, Tăng. Cho nên đó là phương hướng mà chúng ta hướng đến trong đời sống của chúng ta. Chúng ta đi trong phương hướng ấy căn cứ trên việc muốn tránh những hoàn cảnh tái sanh tệ hại hơn và niềm tin vững chắc rằng đi trong phương hướng này sẽ giúp chúng ta tránh được điều ấy và thành tựu mục tiêu tâm linh của chúng ta là giải thoát và Giác Ngộ. Việc tránh những sự tái sanh tệ hại, việc đạt đến giải thoát và thành tựu Giác Ngộ: đây là ba mục tiêu được biết như con đường tiệm tiến (lamrim - Giác Ngộ thứ đệ luận), những giai tầng của con đường tu tập.

Và điều thứ nhất mà chúng ta cần làm, nhằm để tránh mọi thứ trở nên tệ hơn, là chế ngự khỏi thái độ tiêu cực. Nguyên tắc đạo đức, đấy - giới. Và chúng ta làm việc ấy trên căn bản của việc thông hiểu rằng nếu chúng ta hành động trong một cách tiêu cực, nó sẽ tạo ra sự bất hạnh và các rắc rối; và nếu chúng ta chế ngự khỏi thái độ tiêu cực, thì nó sẽ đưa chúng ta tối thiểu là niềm hạnh phúc thông thường. Và mặc dù cuối cùng chúng ta muốn vượt thắng ngay cả niềm hạnh phúc thông thường này, tuy nhiên đó là một hoàn cảnh thuận lợi hơn cho việc thực hành tâm linh hơn là khổ đau và bất hạnh.

Thế thì chúng ta nghĩ về tất cả các vấn nạn của những sự tái sanh tiếp diễn không thể kiểm soát. Cho nên cho dù chúng ta trải nghiệm những nổi bất hạnh kinh khủng hay các hoàn cảnh cực kỳ hạnh phúc thông thường, rằng tất cả chúng có những nhược điểm. Và chúng ta thấu hiểu vấn đề tất cả những thứ đó như thế nào, những tình trạng đầy dẫy khổ não đớn đau kinh khiếp, hay những tình trạng tái sanh đầy ấp niềm hạnh phúc thông thường [trong lục đạo]- chúng ta thấu hiểu vấn đề cả hai thứ này được phát sinh do bởi thái độ nghiệp duyên, là thứ căn cứ trên sự bất giác về nhân quả và thực tại, và sự tham dục của chúng ta sau niềm hạnh phúc thông thường, và tham dục sau khi được tách rời khỏi niềm đau đớn và bất hạnh thường lệ này, và chỉ có niềm hạnh phúc thông thường. Chúng ta phát triển sự quyết tâm thoát khỏi những điều này một cách hoàn toàn. Đó được gọi là "sự viễn ly". Và vì thế chúng ta có sự quyết tâm mạnh mẽ để được giải thoát [khỏi lục đạo].

Và rồi thì căn bản của tất cả những thứ đó, với việc đã có một sự tập trung phát triển nào đấy, sau đó chúng ta đi đến Đại Thừa. Mặc dù chúng ta có thể đem vào Đại Thừa những ý tưởng nào đó của bi mẫn và v.v… từ ngay lúc mới bắt đầu: tôi muốn tiếp tục để có một sự tái sanh thân người quý giá vì thế tôi mới có thể giúp đở người khác. Cho nên lòng bi mẫn này có thể được thêm vào ngay lúc mới bắt đầu. Nhưng điều sẽ cấu thành một loại thực tập Đại Thừa là chúng ta đang hướng sự thực tập của chúng ta tuyệt đối đến tất cả mọi người. Thế nên chúng ta không tập trung chỉ vào chính chúng ta và các vấn nạn của chúng ta và sự giải thoát của chính chúng ta từ việc tu tập. Chúng ta không tập trung vào chỉ một số ít người mà chúng ta ngẫu nhiên ưa thích. Chúng ta thậm chí không tập trung chỉ vào tất cả những ai là con người bây giờ, trong kiếp sống này. Nhưng đây là một thể trạng hoàn toàn bao la của tâm đang tập trung vào tất cả mọi loài, vào tất cả các tình trạng của sự tái sanh [của vạn loại chúng sanh], suốt khắp toàn vũ trụ.

Và chúng ta nhận ra rằng mọi người có một sự tương tục tinh thần vô thỉ, sự tái sanh vô thỉ, và mọi người đã từng có những loại hình thân thể khác nhau trong kiếp này hay kiếp khác, kể cả là mẹ của chúng ta. Và chúng ta có sự buông xả đối với mọi người vì thế chúng ta không chỉ thích thú với một số này và khước từ số người khác và dửng dưng với những kẻ nọ. Và chúng ta nhớ lại lòng ân cần của mọi người, không chỉ khi họ là mẹ của chúng ta, mà ngay cả vào những lúc khác khi họ trồng thực phẩm hay xây dựng đường xá hay làm ra mật cho chúng ta ăn. Và chúng ta cảm kích lòng ân cần ấy và muốn thế nào đấy hành động để đền đáp, và điều này phát sinh một lòng yêu thương nhiệt tình đối với mọi người, mà ngay cả chỉ nghĩ về người khác đã làm chúng ta cảm thấy ấm áp và hạnh phúc, và vấn đề kinh khủng thế nào nếu điều gì đấy tệ hại xảy ra cho họ. Và điều này được tăng cường bằng việc thấu hiểu sự bình đẳng của tất cả mọi người. Đúng như là tôi muốn hạnh phúc và không muốn bất hạnh, vì thế mọi người bình đẳng cùng cảm thấy như vậy. Và tôi chỉ là một người và mọi người khác là vô số, và vì thế tốt hơn là thay vì chỉ nghĩ về tôi và làm việc để chiến thắng những vấn nạn của tôi, vì tôi là một thành viên của toàn bộ một tầng lớp của những chúng sanh này và do thế thật thích đáng để tôi hành động vì tất cả mọi người bởi vì tôi thuộc về mọi người. Và tất cả chúng ta bình đẳng có cùng vấn nạn; trong một chữ, luân hồi. Sự tồn tại luân hồi của cõi ta bà. Thế cho nên, chính là trên căn bản của điều này mà chúng ta có lòng từ ái và bi mẫn và quyết tâm phi thường và tâm giác ngộ mà tôi đã giải thích phía trước.

Trước tiên chúng ta cần nghe tất cả về điều này, trong mô thức của tâm giác ngộ, vì chúng ta đã từng nghe nó một cách chính xác, chúng ta biết tâm giác ngộ đang nói về những gì. Chúng ta đúng là không lẫn lộn tâm giác ngộ với từ ái và bi mẫn, mà người ta thường như vậy. Tâm giác ngộ hơn từ ái và bi mẫn nhiều lắm. Chính là căn cứ trên từ ái và bi mẫn, nhưng hơn thế ấy nhiều, như tôi đã giải thích. Và rồi thì chúng ta hành động xa hơn với tâm giác ngộ, nghĩ về nó vì thế chúng ta thông hiểu nó thật sự có nghĩa là gì. Chúng ta thấu hiểu vấn đề tập trung trên nó như thế nào và thể trạng của tâm nào mà chúng ta đang phát sinh. Chúng ta tin chắc rằng chúng ta có thể thành tựu việc ấy. Chúng ta tin chắc rằng mọi người có thể Giác Ngộ và tôi thật sự có thể giúp họ bằng việc chỉ cho họ con đường. Và chúng ta nhận ra rằng không có kẻ nào là thượng đế toàn năng - mà ta có thể chỉ chạm vào người đó với ngón tay của ta và họ Giác Ngộ. Do vậy chúng ta có một ý tưởng thực tế về vấn đề con người có thể trở thành Giác Ngộ như thế nào. Họ phải làm trên chủ đề ấy với chính họ như thế nào, một cách căn bản. Và như thế, căn cứ trên ấy, rồi thì việc thông hiểu những phương pháp cho việc làm của chúng ta tiến đến việc phát sinh thể trạng tâm này như thế nào, thì chúng ta mới có thể phát tâm giác ngộ nay tại trình độ khởi đầu như thế nào.

Bây giờ chúng ta biết một cách chính xác thể trạng tâm thức này là gì. Chúng ta thấu hiểu nó, chúng ta tin chắc rằng chúng ta có thể thành tựu điều ấy, và vì thế chúng ta đi qua những giai tầng của mọi người đã từng là mẹ của chúng ta, mọi người đã từng ân cần, v.v… và chúng ta có thể phát sinh thể trạng của tâm giác ngộ và nó là chân thành. Và điều thật sự khó khăn ở đây là để cho điều này bao hàm tất cả mọi người, đó là nguyện ước hổ trợ bình đẳng tất cả mọi người.

Và điều chúng ta có đầu tiên, trên căn bản của điều này, được gọi là "tâm giác ngộ nguyện vọng". Đây là nguyện ước đạt đến sự Giác Ngộ chưa xảy ra nhằm để làm lợi ích cho mọi người. Và điều đó có hai phương diện với nó. Thứ nhất là phương diện này của việc chỉ "nguyện ước đơn thuần" điều này; và thứ hai là điều được gọi là "thể trạng cam kết", trong ấy tôi phát nguyện rằng tôi sẽ không từ bỏ nó cho đến khi tôi thành tựu Giác Ngộ. Và rồi chúng ta đi đến phát triển điều được gọi là "thể trạng dấn thân" của tâm giác ngộ, điều đó gia cố thêm vào thể trạng mong ước hay nguyện vọng, mà trong ấy tôi quyết định trọn vẹn tự dấn thân hoàn toàn vào những sự tu tập sẽ đưa tôi đến Giác Ngộ.

Và ở giai tầng ấy chúng ta thọ các giới nguyện của Bồ tát. Và điều này sẽ cấu thành thái độ của chúng ta, bằng việc thọ những giới này, bởi vì những gì chúng ta đang phát nguyện là để tránh những việc nào đó có thể làm tổn hại đến việc phát triển tâm giác ngộ trong tổng quát - đó sẽ là căn bản giới Bồ tát. Và những giới khinh của Bồ tát giới để tránh những thứ sẽ là bất lợi một cách đặc thù đến việc phát triển sáu ba la mật, cộng thêm những gì sẽ làm bất lợi đến việc làm lợi ích người khác, trong hình thức tổng quát. Khi chúng ta nói về các thái độ ba la mật, thì chúng ta nói về thí, giới, nhẫn, tấn, thiền (tinh thần bất biến) - không chỉ là sự tập trung, mà là một thể trạng ổn định của tâm thức không bị quấy rầy bởi các cảm xúc phiền não - và tỉnh giác phân biệt (tuệ - prajna), thực tại bình thường (chúng ta phân biệt thực tại với vọng tưởng).

Rõ ràng chúng ta có thể phát triển và thực tập các ba la mật này trước khi chúng ta phát triển tâm giác ngộ, nhưng sự thực hành Đại Thừa thật sự là khi những điều này phối hợp với tâm giác ngộ. Cho nên chúng ta thực hành loại thái độ của Bồ tát trên căn bản của những giới Bồ tát này, một cách căn bản phát triển ngày càng hơn thêm các ba la mật này. Có sáu ba la mật, cũng có khi nói đến mười ba la mật; thêm bốn điều là những chi phần của tuệ ba la mật. Không cần phải chi tiết về tất cả những thứ này. Và qua điều này, chúng ta xây đắp ngày càng thêm những mạng lưới của năng lực tích cực và tỉnh giác thâm sâu (tức là phước và trí).

Bây giờ vẫn ở tại giai tầng này, chúng ta phát sinh thể trạng của tâm giác ngộ trong một cách cố gắng - đây là thuật ngữ kỷ thuật, có nghĩa là với sự cố gắng hay nổ lực - và điều này có nghĩa là chúng ta phải đi qua phương tiện của luận lý nhằm để có thể làm mới thể trạng ấy của tâm giác ngộ. Cho nên chúng ta phải đi qua những giai tầng của buông xả, và mọi người đã từng là mẹ ta, v.v… và hành động tiến tới thể trạng ý thức này của tâm. Và cuối cùng qua vô vàn sự tu tập quen thuộc và phước đức từ việc giúp đở người khác, chúng ta sẽ có một sự phát triển không khó nhọc tâm giác ngộ, có nghĩa là chúng ta không phải đi qua lý luận nhằm để phát sinh tâm giác ngộ; chúng ta có thể trạng tâm ấy một cách tự nhiên, tự động. Và cho dù chúng ta ý thức về nó hay không là không liên hệ. Cho dù thể trạng tâm giác ngộ ấy thật sự ý thức (nói cách khác, nó là đối tượng tập trung chính của chúng ta tại thời điểm ấy) hay cho dù nó là một sự tiềm tàng (nói cách khác, vô thức), nó là giống nhau, trong ý nghĩa rằng đây là phương hướng chính của đời sống chúng ta bất chấp điều gì xảy ra. Nó hòa nhập một cách sâu sắc. Và chỉ ở giai tầng ấy nơi chúng ta thật sự trở thành một vị Bồ tát. Một vị Bồ tát là gì, chính là như vậy, một người nào đó có tâm giác ngộ không mệt mõi. Cho nên tất cả những lợi lạc và ca ngợi tâm giác ngộ được đề cập, thí dụ trong chương thứ nhất của tác phẩm Hướng Dẫn Lối Sống Bồ Tát của Tịch Thiên, liên hệ đến giai tầng này của tâm giác ngộ, giai tầng không nổ lực này nơi hành giả trở thành một vị Bồ tát.

Và chúng ta cần thấu hiểu rằng cho dù chúng ta đang nói về tâm giác ngộ nổ lực hay không nổ lực vẫn là nhận thức, bởi vì chỉ có một Đức Phật mới có thể biết một cách vô thức Giác Ngộ là như thế nào; và đối với chúng ta, những người chưa là Phật, tập trung vào Giác Ngộ, ngay cả sự Giác Ngộ chưa xảy ra, chỉ có thể qua một khái niệm về nó là gì. Cho nên khi Tịch Thiên nói rằng một khi quý vị phát triển tâm giác ngộ, thế thì cho dù quý vị là tỉnh thức hay ngay cả khi ngủ hay say rượu, tâm giác ngộ vẫn xây đắp cho chúng ta vô vàn phước đức, ở đây ngài đang liên hệ đến thể trạng tâm giác ngộ không nổ lực.

Và cũng thế, khi chúng ta phát triển thể trạng tâm giác ngộ không nổ lực này, sau đó ở tại điểm này chúng ta đạt đến những gì được gọi là "con đường xây dựng lên" hay "con đường tích lũy" hay "tư lương đạo". Đấy là tâm đạo thứ nhất trong năm tâm đạo[1]. Cho nên đó là một trình độ của tâm mà nó sẽ hoạt động như một lối đi cho con đường chính yếu thật sự sẽ đưa chúng ta đến, trong trường hợp này, sự Giác Ngộ. Cho nên khi chúng ta nghe nói về năm tâm đạo này, đây là năm trình độ của tâm; chúng không là những con lộ, mà nó là một trình độ của tâm sẽ đưa chúng ta tiến xa hơn như một con lộ. Và chúng ta có thể làm điều này trong một con đường Đại Thừa vì thế dòng suối phát triển này sẽ đưa đến sự Giác Ngộ của chúng ta. Và chúng ta đạt đến trình độ thứ nhất của năm trình độ này khi chúng ta có tâm giác ngộ không nổ lực này.

Cho nên, đối với hầu hết chúng ta, chúng ta ở tại những trình độ tâm trước đấy. Và ngay cả nếu chúng ta thực sự tu tập về từ ái và bi mẫn và tâm giác ngộ, nó chắc chắn căn cứ chỉ trên việc nghe về giáo huấn của tâm giác ngộ. Và có thể chúng ta đã từng thấu hiểu một ít về tâm giác ngộ, nhưng tôi nghĩ, đối với hầu hết chúng ta, chúng ta không hoàn toàn tin chắc trên một căn bản có lý trí rằng chúng ta thật sự có thể trở thành Giác Ngộ và rằng mọi người khác tuyệt đối có thể trở thành Giác Ngộ, thật sự hoàn toàn khó để mà tin tưởng một cách trọn vẹn về điều này bởi vì để làm việc ấy quý vị phải thông hiểu Giác Ngộ là gì. Thật không dễ dàng. Do vậy chúng ta đơn thuần có điều gọi là một "sự thấu hiểu đoán chừng." Chúng ta coi như điều ấy là đúng, nhưng tôi thật sự không quá tin chắc một cách sâu xa, thậm thâm. Và nếu chúng ta thành thật với chính mình, phạm vi của phong cách tư tưởng Đại Thừa thật sự quá giới hạn. Tôi thật sự không nghĩ tuyệt đối về mọi người. Tôi ngay cả không thể bắt đầu tưởng tượng mọi người, mọi loài - những con côn trùng - vào thời điểm này, mọi loài trong bất cứ hình thức sống nào bất cứ nơi nào trong vũ trụ. Cho nên chúng ta đang làm việc với điều ấy. Chúng ta cần - không tự phụ, không giả bộ, "Ô, tôi là một hành giả Đại Thừa to bự", như chỉ để giả vờ tôi là một vị Bồ tát. Điều này là lố bịch. Nhưng bất cứ trình độ phát triển nào mà chúng ta có nó đang đi vào phương hướng của tâm giác ngộ, điều này là tuyệt vời và hữu ích.

Tốt chứ? Vậy thì đây là sự giới thiệu căn bản mà chúng ta bao hàm thật sự tất cả con đường tiệm tiến lamrim và tất cả giáo huấn về tâm giác ngộ, nhưng tôi nghĩ rằng đây là nền tảng cần thiết trước khi chúng ta đi vào những giới nguyện của Bồ tát. Và trong khóa tu cuối tuần lần tới, chúng ta sẽ đi sâu hơn vào những phương pháp cho việc phát triển tâm giác ngộ. Nhưng bây giờ tuần này, chúng ta sẽ thảo luận về chính những giới nguyện mà thôi. Trước khi chúng ta làm như thế hãy nghĩ giải lao mười lăm phút và sau đó chúng ta sẽ tiếp tục.

***

Ẩn Tâm Lộ, Monday, July 06, 2015
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

Sakyadhita: Chư Ni PG Việt Nam tham gia diễn thuyết

Sakyadhita: Chư Ni PG Việt Nam tham gia diễn thuyết

Đăng lúc: 21:07 - 30/06/2015

Hội nghị Sakyadhita lần thứ 14 năm nay được tổ chức tại Yogyakarta, Indonesia từ ngày 23-6 đến 30-6-2015 với chủ đề "Từ bi, công bằng và xã hội" có tổng cộng 58 bài tham luận của 58 diễn giả đến từ 40 quốc gia: Mỹ, Anh, Úc, Đức, Malaysia, Indonesia, Butan,Tây Tạng, Indonesia,Đài Loan,Hong kong, Hàn Quốc và Việt Nam...


ANH SAKYA (2).jpg
Chư Ni Phật giáo Việt Nam tại Sakyadhita
Những tham luận khẳng định và nhằm tôn vinh sự đóng góp của Nữ giới Phật giáo trong đời sống xã hội và tâm linh của cộng đồng trên khắp thế giới. Hội nghị bao gồm các buổi tọa thiền, thảo luận phiên, tham quan…

Hội nghị lần này cũng nhấn mạnh những thành tựu của nữ tu sĩ và cư sĩ Phật giáo vì cuộc đấu tranh về nhân quyền và bình đẳng giới...
Tham gia diễn thuyết tại Hội nghị nữ giới Phật giáo thế giới lần này với 3 bài tham luận rất đặc sắc được tôn vinh tại Hội nghị: “Nữ giới phật giáo indonesia: Sự đa dạng và công bằng xã hội” của diễn giả Karma Lekshe Tsomo; “Một số thách thức đối với các nữ tu ngoài vùng Himalaya theo truyền thống Phật giáo tây tạng” của Jetsunma Tenzin Palmo và "Từ bi và dấn thân xã hội: Những mô hình tương hỗ cho nữ giới Việt Nam" của diễn giả Thích nữ Như Nguyệt được đánh giá cao tại Hội nghị.
Bài thuyết trình của SC.Thích nữ Như Nguyệt nêu chân dung của NS.Thích nữ Huệ Tuyến, trụ trì chùa Lâm Quang, quận 8, TP.HCM dấn thân nuôi dưỡng người già neo đơn tại trú xứ với mô hình từ thiện xã hội tiêu biểu tại nơi tu tập ở Việt Nam.
ANH SAKYA (6).jpg
NS.Thích nữ Huệ Tuyến và SC.Thích nữ Như Nguyệt
được Ni sư Karma Lekshe Tsomo tuyên dương vì bài tham luận xuất sắc
ANH SAKYA (5).jpg
SC.Thích nữ Huệ Tuyến được Hội nghị tôn vinh vì có mô hình hay

ANH SAKYA (3).jpg
Chư Ni Việt Nam tại Hội nghị Sakyadhita tại Indonesia
ANH SAKYA (1).jpg
Chư Ni Việt Nam tham gia các chương trình thảo luận
Như Nguyệt (từ Indonesia)

Ấn Độ: Chùm ảnh Hiệp hội Dhomey, Pháp tổ chức Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tu viện Main

Ấn Độ: Chùm ảnh Hiệp hội Dhomey, Pháp tổ chức Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tu viện Main

Đăng lúc: 21:01 - 23/06/2015

Văn phòng Chính phủ Tây Tạng lưu vong, Dharamsala đưa tin – 22/06/2015 đã diễn ra buổi lễ mừng Sinh nhật Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma, do Hiệp hội Dhomey, Pháp tổ chức tại Tu viện Main, Dharamsla, Ấn Độ.
Ông Virbhadra Singh, Bộ trưởng Bộ Himachal Pradesh, Ấn Độ cho biết: “Tôi tham dự Lễ mừng Sinh nhật Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma với tất cả lòng chí thành cung kính ngưỡng mộ lòng Từ bi, đức Đại hùng lực của vị lãnh đạo tinh thần dân tộc Tây Tạng, Ngài không chỉ dẫn dắt nhân dân Tây Tạng trên hành trình xây dựng xã hội an lạc hạnh phúc mà cho cả nhân loại thế giới nói chung.
Đức Đạt Lai Lạt Ma không những được sự ngưỡng mộ của các lãnh đạo Chính phủ Tây Tạng lưu vong, mà còn là một kiến trúc sư của nền hòa bình, sự tĩnh lặng bình yên, tình hữu nghị thiện chí giữa các quốc gia, trong đó Ngài được công nhận bởi cộng đồng nhân loại thế giới.
Chúng tôi vô cùng hạnh phúc được sự hiện diện của đức Đạt Lai Lạt Ma, Chính phủ Tây Tạng lưu vong, cộng đồng Tây Tạng cùng hòa mình chung sống hài hòa tại Dharamshala, bang Himachal Pradesh chúng tôi đang lãnh đạo”.
Ông Edward John, một nhà lãnh đạo chính trị nổi tiếng Canada, hồi tưởng lại chuyến công du hoằng pháp tại Australia của đức Đạt Lai Lạt Ma, nơi Ngài gặp gỡ với một nhóm người bản địa, và chia sẻ về Văn hóa ngôn ngữ của họ, tầm quan trọng của việc gìn giữ và phát huy chung cho gia đình nhân loại.
“Trong thâm tâm tôi vô cùng ngưỡng mộ và tri ân Ngài, cho con cháu và hơn 370 triệu người dân bản địa trên toàn thế giới, làm thế nào cùng nhắn gửi Thông điệp cho nhau”.
Ông cung kính dâng lên món quà Sinh nhật, một tấm khăn choàng màu sắc cổ truyền Canada, như một dấu hiệu của lòng biết ơn sâu sắc đến đức Đạt Lai Lạt Ma.
Trong bài phát biểu, đức Đạt Lai Lạt Ma đã bày tỏ mối quan tâm sâu sắc về hoàn cảnh của người dân bản địa ở các nước khác nhau. Ngài nói rằng những thổ dân phải được giáo dục, để họ có thể học hỏi, hòa mình với nếp sống văn minh hiện đại.
Nói về việc bảo tồn truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc, Ngài nhấn mạnh rằng: “Ngôn ngữ văn tự là điều kiện tiên quyết để bảo tồn truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc. Khi nói đến cộng đồng Tây Tạng, tôi vô cùng tri ân và tự hào về tổ tiên của mình để có một kịch bản Tây Tạng rất phong phú”.
Ngài nhớ lại buổi chia sẻ với những người bản xứ da đen với tinh thần cảm xúc. Ngài bày tỏ nỗi buồn của mình khi người đàn ônglại tin rằng bộ não của người đàn ông da đen hạn chế hơn bộ não của người đàn ông da trắng. Đề cập đến vấn đề mặc cảm tự ty của thổ dân, Ngài nói rằng Trung Quốc đã đối xử với người Tây Tạng rất thiếu văn minh. Có phải người Tây Tạng không biết kềm chế bởi cơ hội hạn chế, họ sẽ có được ngang bằng với người dân Trung Quốc. Thế kỷ 21 là thế kỷ của sự bình đẳng, dân chủ, văn minh.
Ngài tiếp tục chia sẻ về ý nghĩa của sự đoàn kết và phụ thuộc lẫn nhau. Ngài nói rằng: “Mình là Trung tâm” là nguyên nhân, cội gốc của tất cả những rắc rối trên thế giới. Do thái độ ích kỷ, thế giới không bao giờ hết tạo ra vấn đề. Chúng ta sống trong một cộng đồng mà chúng ta không không thể hòa nhập thì tự chúng ta bị cô lập, do đó chúng ta phải phụ thuộc vào người khác. Hạnh phúc của chúng ta phụ thuộc vào sự tích cực lành mạnh của nhân loại thế giới”.
Chia sẻ cảm nghĩ của mình về hạnh phúc, Ngài nói rằng bản chất thực sự của nhân loại đang bị thương hại từ người sáng tạo ra thế giới, mình là hiện thân của tình yêu và lòng từ bi. Tình yêu và lòng từ bi là bẩm sinh trong mỗi con người, vì được nuôi dưỡng bằng tình thương yêu của người mẹ.
Nếu thiếu tình yêu thương và lòng từ bi, đối với hệ thống giáo dục hiện nay nếu chỉ tập trung vào nhu cầu vật chất, Ngài nhấn mạnh sự cần thiết để mang lại sự tập trung bằng giá trị bên trong của tiềm năng tri thức và đạo đức của con người.
Chùm ảnh Hiệp hội Dhomey, Pháp tổ Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tu viện Main Dharamsla, Ấn Độ. Trân trọng kính mời quý bạn đọc cùng chia sẻ:

Ông Virbhadra Singh, Bộ trưởng Bộ Himachal Pradesh, Ấn Độ dâng lễ mừng Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma, theo nghi lễ truyền thống Tây Tạng


Một nhóm Sinh viên Mỹ tham dự Lễ mừng Sinh nhật Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma


Đức Đạt Lai Lạt Ma và Ông Virbhadra Singh, Bộ trưởng Bộ Himachal Pradesh, Ấn Độ xem triển lãm Văn hóa PG Tây Tạng, dịp Lễ mừng Sinh nhật Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma


Đức Đạt Lai Lạt Ma và các vị khách đặc biệt tham quan phòng sách báo, Văn hóa phẩm PG Tây Tạng, dịp Lễ mừng Sinh nhật Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma


Đức Đạt Lai Lạt Ma trao tặng Ông Virbhadra Singh, Bộ trưởng Bộ Himachal Pradesh, Ấn Độ, một bức tranh Tôn giả Shantarakshita (Tịch Hộ), Tiến sĩ Lobsang Sangay (洛桑森格- Lạc Tang Sâm Cách), Thủ tướng Chính phủ Tây Tạng lưu vong (Sikyong), cầm bức tranh Tôn giả chiêm ngưỡng, và quan khách đặc biệt, dịp lễ mừng Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma


Quan cảnh tiệc mừng Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma


Một trong hàng nghìn người tham dự lễ mừng Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma


Đức Đạt Lai Lạt Ma và Ông Virbhadra Singh, Bộ trưởng Bộ Himachal Pradesh,Ấn Độ cắt bánh Sinh nhật khánh tuế chúc thọ bát tuần cho Ngài, lễ mừng Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma


Ông Virbhadra Singh, Bộ trưởng Bộ Himachal Pradesh, Ấn Độ cung kính dâng bánh Sinh nhật, Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma


Quan cảnh Lễ Mừng Sinh nhật, Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma thật trang nghiêm long trọng, lễ mừng Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma


Một Thanh niên mặc trang phục truyền thống dân tộc Tây Tạng quỳ gối, ngâm những vần Thơ kính mừng Sinh nhật, Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma


Một số thành viên đứng che ô trong cơn mưa, cùng tham dự lễ mừng Sinh nhật, Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma, lễ mừng Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma


Đội Văn hóa Nghệ thuật Tây Tạng biểu diễn một vũ khúc truyền thống dân tộc, kính mừng Sinh nhật, Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma


Đức Đạt Lai Lạt Ma choàng khăn truyền thống Canada, món quà Sinh nhật 80 tuổi, lễ mừng Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma


Thế hệ trẻ Sinh viên Phật giáo Tây Tạng cung kính chắp tay mừng Sinh nhật, Khánh tuế chúc thọ bát tuần đức Đạt Lai Lạt Ma


Đức Đạt Lai Lạt Ma tay cầm đĩa DVD, và Cư sĩ Virbhadra Singh, Bộ trưởng Bộ Himachal Pradesh, Ấn Độ, giới thiệu nội dung phim tài liệu về cuộc sống của các trẻ em Trường TCV Làng thượng Trẻ em Tây Tạng, Dharamsla, Ấn Độ, đây là quà tặng Sinh nhật đức Đạt Lai Lạt Ma 80 tuổi. 22/06/2015





Đức Đạt Lai Lạt Ma và Cư sĩ Virbhadra Singh, Bộ trưởng Bộ Himachal Pradesh, Ấn Độ, cùng quan chức cao cấp Ấn Độ, Tây Tạng lưu vong xem phim tài liệu về cuộc sống của các trẻ em Trường TCV Làng thượng Trẻ em Tây Tạng, Dharamsla, Ấn Độ. 22/06/2015

Thích Vân Phong (Tin từ VP Chính phủ Tây Tạng lưu vong - Ảnh: Tenzin Cheojor)

Người đồng tính vẫn tu học tốt

Người đồng tính vẫn tu học tốt

Đăng lúc: 20:37 - 22/06/2015

Người Phật tử thuộc mọi giới tính, giữ trọn năm giới, có tri thức, biết hiếu thảo, siêng làm phước thiện thì đó là người tốt.

HỎI: Tôi là sinh viên y khoa, hiện đang sống và học tập tại TP.HCM. Tôi được giáo dục một cách rất khoa học những vấn đề liên quan đến cộng đồng người đồng tính nữ (les), đồng tính nam (gay), song tính (bisexual) và chuyển giới (transgender), gọi chung là cộng đồng LGBT. Bản thân tôi là một người đồng tính nam, có được sự hiểu biết, tư vấn về giáo dục sức khỏe, giới tính và sự động viên từ những người bạn, thầy cô trong trường, tôi cảm thấy có niềm tin vào cuộc sống, tự hào về bản thân mình.
Tôi đồng thời cũng là một Phật tử và có duyên với Phật pháp từ khi còn là một đoàn sinh của Gia đình Phật tử, ba mẹ và người thân của tôi đều là những Phật tử thuần thành. Nhưng khi nghĩ về điều này, tâm tôi tự dưng sinh ra nỗi mặc cảm, xấu hổ, tự ti về bản thân, và tôi luôn mang tâm trạng buồn khi đến chùa hoặc sinh hoạt trong những khóa tu. Tôi đã khóc thầm khi niệm danh Bồ-tát Quán Thế Âm và tự độc thoại những lời chân thành trong tâm thổ lộ với Ngài.
Tôi nhận ra rằng chúng sanh đều mang nghiệp khác nhau, và trường hợp của tôi, nghiệp là một người đồng tính. Tôi không buồn vì bản thân mình, nhưng tôi buồn vì xã hội này chưa thể chấp nhận tôi. Khi ba mẹ phát hiện tình yêu của tôi, ba mẹ đã kịch liệt phản đối và tôi thấy mẹ khóc trong lúc đánh tôi khiến tim tôi như thắt nghẹn. Bản thân tôi luôn là người có ý thức, chăm lo học hành và luôn đem lại niềm vui cho ba mẹ, không để cha mẹ phiền lòng về mình. Nhưng ngay lúc đó tôi đã biết mình mang tội đại bất hiếu, mặc dù tôi không hề muốn như vậy. Khi đó tôi chỉ biết niệm danh Đức Bồ-tát Quán Thế Âm và cầu cứu Ngài mà thôi, cầu cho mẹ đừng khóc nữa. Kể từ đó tôi thấy ba mẹ đều buồn và sức khỏe sa sút, trong khi bản thân tôi bất lực không thể làm gì khác được.
Hiện tôi cảm thấy hạnh phúc khi có được một tình yêu chân thành, hai đứa chúng tôi luôn hỗ trợ nhau trong học tập, cuộc sống, và đều có những dự định về tương lai, trở thành những vị thầy thuốc có y đức. Nhưng trong những mối quan hệ xã hội, tôi cảm thấy mất phương hướng, nhiều lúc cảm thấy mình làm như thế này có đúng hay không, có gì sai với lời dạy của Phật hay không, tôi nghĩ không chỉ riêng mình mà các bạn Phật tử đồng tính như tôi cũng như vậy.
Tôi chân thành xin hỏi, một người đồng tính hay những bạn Phật tử trẻ khác thuộc cộng đồng LGBT nên sống như thế nào để không làm trái với lời dạy của Đức Phật, để trở thành một công dân thiện lương và có ích cho xã hội. Và trong mối quan hệ gia đình, làm sao để ba mẹ thấu hiểu và chấp nhận người như tôi cùng tình yêu của tôi theo tinh thần của đạo Phật, giữ vững được giá trị yêu thương, tình cảm của gia đình mà không đi ngược lại với hiếu đạo.
(PHÁP HẠNH, xukikuki@yahoo.com)
ĐÁP:
Bạn Pháp Hạnh thân mến!
Đúng như bạn đã nhận thức, theo Phật giáo, giới tính nam, nữ hay LGBT là do nghiệp của mình. Và dĩ nhiên, dù mang giới tính nào đi nữa, nếu biết tu học (biết sửa mình) thì đều có thể trở thành người tốt, người Phật tử thuần thành, có ích cho đạo và đời.
Đức Phật đã khẳng định, “sự cao thượng hay thấp hèn của một người không phải ở giai cấp mà ở nơi suy nghĩ, lời nói và hành động cao thượng hay thấp hèn”. Liên hệ đến giới tính cũng vậy, không phải nơi giới tính mà ngay nơi ba nghiệp thân, miệng, ý có thiện lành hay xấu ác để xác định nhân cách tốt xấu của con người ấy.
Bạn là một Phật tử - sinh viên trẻ, có tri thức, có đạo đức, có lương tâm và trách nhiệm, dĩ nhiên bạn là người tốt. Bạn cần biết rằng, giáo lý đạo Phật luôn đề cao sự bình đẳng, không hề có sự kỳ thị người đồng tính hay cộng đồng LGBT nói chung. Việc ba mẹ quá đau buồn về giới tính của bạn, một phần vì chưa hiểu giáo lý đạo Phật một cách sâu sắc, mặt khác vì ảnh hưởng định kiến xã hội nặng nề.
Hiện tại bạn đang là người tốt, hiếu hạnh của bạn vẫn tròn đầy, bạn không có lỗi gì với ba mẹ cả, vậy bạn nên nhanh chóng loại ra khỏi đầu óc mặc cảm mang “tội đại bất hiếu”. Dù một số người hiện vẫn cho rằng, những nhà vô phúc mới sinh ra con cái thuộc LGBT. Đây là định kiến sai lạc mà xã hội văn minh đang loại bỏ, người Phật tử lại càng nhanh chóng loại bỏ, vì đó không phải là chánh kiến.
Bạn cần vận dụng tri thức xã hội và kiến thức về Phật pháp để sẻ chia với ba mẹ. Rằng, giới tính do nghiệp quá khứ sinh ra, nghiệp cũ này đã chín muồi (đã định dạng như người da trắng, da vàng hay da đen) nên không thay đổi được. Mặt khác, bạn cũng cần nói rõ cho gia đình biết giới tính của bạn vốn dĩ như vậy, không phải do lây lan hay đua đòi hoặc tự nhận lầm về giới tính. Tiếp đến là biết chấp nhận bản thân đồng thời nỗ lực tạo ra các nghiệp mới khác theo hướng thiện lành.
Người Phật tử thuộc mọi giới tính, sau khi quy y Tam bảo, sống đạo đức với việc giữ trọn năm giới (không giết hại, không trộm cướp, không tà hạnh, không nói dối, không say nghiện), có tri thức, có nghề nghiệp ổn định, biết hiếu thảo, siêng làm phước thiện thì chắc chắn đó là một người tốt.
Và dĩ nhiên, những người Phật tử thuộc cộng đồng LGBT hoàn toàn có quyền yêu thương, thiết lập hạnh phúc hôn nhân theo quan điểm của riêng mình (cần thủy chung, giữ giới không tà hạnh như các Phật tử khác) mà không có gì trái với lời Phật dạy.
Như vậy, trong quan điểm của xã hội văn minh, trong quan điểm bình đẳng và minh triết của đạo Phật, bạn là một người hoàn toàn bình thường. Nên bạn cần gạt bỏ tất cả những mặc cảm bạn là người “bất thường” ra khỏi suy nghĩ để tu dưỡng đạo đức và thành tựu sự nghiệp.
Nhân loại tiến bộ đang từng bước thừa nhận sự đa giới tính của con người, không chỉ có nam và nữ. Hiện thực ở nước ta, dù đã hội nhập và phát triển nhưng tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại, và dĩ nhiên, định kiến với cộng đồng LGBT còn khá nặng nề. Vì thế, tự thân bạn cần khẳng định chính mình thông qua học tập, tu dưỡng đạo đức, hiếu đạo, thành tựu sự nghiệp và khả năng phụng hiến cho cuộc đời.
Chúc bạn tinh tấn!
TỔ TƯ VẤN

Phật tự tại trước mọi sóng gió cuộc đời

Phật tự tại trước mọi sóng gió cuộc đời

Đăng lúc: 10:53 - 15/06/2015

Đức Phật của chúng ta ngày xưa cũng bị nhiều người hủy nhục trước mặt vua quan, thần dân thiên hạ. Khi bị cô gái giả làm bụng bầu bêu xấu trước mặt mọi người: “Sa môn Cồ Đàm đã lấy em rồi mà ngày nay bỏ bê em như thế này để em phải bụng mang dạ chữa, sao anh đối với mọi người đều từ bi thương yêu bình đẳng mà lại để em thành ra nông nỗi.
Nếu anh không có thời gian để lo cho em thì hãy nên nhờ bà Tỳ Xá Khư chăm sóc, giúp đỡ cho em chứ?” Trước mặt đại chúng, Phật an nhiên trả lời “chuyện này chỉ có tôi biết, cô biết” mà không cần phải đính chính hay minh oan một lời nào. Sự thật vẫn là sự thật, trời xuôi đất khiến thế nào mà trong lúc cô ta đang diễn kịch thì cái bụng bầu giả bằng gối rớt xuống trước mặt mọi người. Cô gái quá xấu hổ nên nhanh chân bỏ chạy, nhiều người tức quá chạy chửi theo “đồ thứ con gái hư thân mất nết”.


Chuyện đó xảy ra không bao lâu thì một chuyện khác lại kinh hoàng, khủng khiếp và độc ác, dã man hơn làm rúng động lòng dân trong cả nước. Bọn người đê tiện, thấp hèn muốn hại Phật lần này đã tung một chiêu đòn quyết định, chúng muốn tẩy chay cả giáo đoàn đức Phật cho bằng được nên lập mưu bày kế tinh vi hơn lần trước gấp trăm ngàn lần. Kỳ này chúng mướn bọn nghiện rượu giết một cô gái đẹp rồi giấu trong Tịnh xá chỗ Phật ở và lên trình báo với vua quan cô gái ngoan đạo của họ một thời gian gần đây hay đến Tịnh xá của Phật nghe pháp và bây giờ đã bị mất tích.
Chúng yêu cầu nhà vua phải làm sao tìm cho được cô gái ngoan đạo ấy.Vua Ba Tư Nặc cho mở cuộc điều tra và cuối cùng tất cả mọi người đều phát giác ra cô đã bị giết và xác được chôn trong Tịnh xá. Sự thật đã quá rõ ràng, đâu còn ai nghi ngờ gì nữa vì mọi người đều tai nghe mắt thấy rõ ràng. Vậy ai là thủ phạm đã giết cô gái và chôn ở chỗ Phật?Phật à, không thể nào có chuyện đó xảy ra, đệ tử Phật cũng không thể nào làm như vậy.
Bọn người xấu lúc này lợi dụng thời cơ đem xác cô gái bỏ lên xe chở đi khắp thành Xá Vệ và rêu rao Sa môn Cồ đàm đã bức tử cô gái. Sự việc xảy ra quá bất ngờ làm cho vua Ba Tư Nặc không biết giải quyết ra sao vì ông biết chắc Phật trước kia là thái tử Sĩ Đạt Ta có vợ là hoa hậu đẹp nhất thời bấy giờ và có cả hàng trăm cung phi mỹ nữ tuyệt nhưng Ngài vẫn từ bỏ hết để sống đời tu hành đơn giản.
Nhà vua biết chắc đây là âm mưu sâu độc của bọn xấu ác vì lòng tham lam ích kỷ, ganh ghét tật đố mà làm chuyện tày trời như vậy để vu oan hủy nhục đức Phật. Những cuộc điều tra bắt đầu, nhà vua cho tung ra nhiều thám tử tài ba lỗi lạc có mặt khắp nơi để dò la tin tức. Bốn chúng đệ tử xuất gia và tại gia thì buồn rầu, lo lắng chờ đợi kết quả cuối cùng.
Riêng bọn người xấu ác thừa dịp này rêu rao tuyên truyền, tung tin rằng xác cô gái chết do sa môn Cồ Đàm quá thất nhơn ác đức đã hãm hiếp cô gái rồi giết luôn và chôn ngay chỗ ở. Lúc này những người hiểu biết đạo chỉ biết trông chờ kết quả điều tra để minh oan cho Phật. Người không hiểu đạo thì nguyền rủa đức Phật sao mà quá tàn ác, nhẫn tâm. Kẻ bếu rếu, người chửi bới làm náo loạn khắp cả thành Xá Vệ.
Lệnh khẩn cấp được ban hành giới nghiêm 24/24, toàn thể chư Tăng đều phải ở yên một chỗ, không ai được rời khỏi trú xứ cho đến khi nào điều tra được vụ án, nếu ai vi phạm sẽ bị xử trảm ngay. Một ngày trôi qua, hai ngày trôi qua nhưng vẫn không có tin tức gì sáng sủa. Nhiều người đang bất mãn, buồn chán, thất vọng, lo âu về sự thật quá phũ phàng, từ xưa đến nay có bao giờ xảy ra vụ án mạng tày trời như thế.
Nhưng trời đâu có hại người ngay, nhân quả rất công bằng, gieo gió thì gặt bão, giết người thì bị người giết lại. Đến ngày thứ ba thì ban chuyên án đã tìm ra manh mối để đem lại sự trong sạch cho Phật và giáo đoàn. Ai hay tin cũng thở phào nhẹ nhõm và mừng thầm trong bụng vì đã qua cơn đại nạn.
Số là bọn nghiện rượu sau khi giết cô gái xong đã nhận được số tiền lớn từ tay bọn xấu ác, nhưng do ăn chia không đồng đều nên trong lúc ăn nhậu cùng nhau, chúng đã cãi cọ, tranh giành nhiều ít và bị quan quân phát giác, tóm cổ.
Thế là cả bọn đều được đưa về cung vua chờ lệnh xét xử, bọn chúng sợ quá nên đã khai hết. Có một số người ngoại đạo đã mướn họ giết cô gái để tẩy chay giáo đoàn của Phật. Vua tức giận quá cho người bắt ngay kẻ chủ mưu quăng liền vào hầm lửa để thiêu sống, những tên giết mướn đều bị giam vào ngục chờ lệnh xét xử sau.
Chuyện xảy ra như vậy mà Phật vẫn bình tĩnh, an nhiên, không mảy may dao động trước sự phao du hủy nhục quá nặng nề. Phật không hề đính chính hay minh oan mà vẫn âm thầm lặng lẽ chờ đợi kết quả hiện thực. Phật an nhiên, tự tại, bất động trước Tám cơn gió lốc cuộc đời nên ngày hôm nay ta thờ Phật, cung kính lễ lạy Phật vì nhân cách siêu phàm vượt Thánh của Ngài mà cố gắng bắt chước tu tập để vượt qua cạm bẫy cuộc đời trước Tám ngọn gió được-mất, khen-chê, danh thơm-tiếng xấu và khổ-vui.
Đức Phật bình đẳng giáo hóa chúng sinh không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán, không oán giận kẻ hại mình mà còn khoan dung độ lượng để họ cải tà quy chánh. Thứ đến Ngài tùy căn cơ chúng sinh mà nói pháp thích hợp để giúp họ chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc. Bất kể là thành phần nào trong xã hội khi gặp Phật đều được lợi lạc, an vui.
Chính vì việc làm và hành động cao thượng của Ngài đã để lại tiếng thơm muôn thuở cho đời giúp chúng ta biết cách làm chủ bản thân mà sống bình yên, hạnh phúc. Hương thơm của các loài hoa có ngào ngạt cách mấy cũng không bằng hương thơm của người đức hạnh luôn bay ngược chiều gió để lại cho đời bằng trái tim yêu thương và hiểu biết.
An nhiên tự tại trước đám đông khi bị hủy nhục
Ngày xưa, có một vị cao Tăng đức độ nuôi dạy gần 500 đồ chúng, đến khi tuổi già sức yếu bệnh hoạn mà chưa chọn được người kế thừa. Để tìm kiếm bậc Pháp khí trong nhà Thiền, vị cao Tăng bày ra kế điệu hổ ly sơn, tung tin bị mất trộm tiền Tam bảo làm trong chúng ai cũng hoang mang nghi ngờ lẫn nhau.
Một hôm khi chúng đang ngủ trong giờ trưa, vị cao Tăng la lớn: “Ăn trộm, ăn trộm.” Mọi người hoảng hốt chạy theo tiếng la, vị đệ tử lớn chạy vào liền bị vị cao Tăng thộp cổ áo mà nói lớn: “Ta bắt được trộm rồi”. Chú đệ tử nói: “Dạ không, con không phải là tên ăn trộm, con nghe la ăn trộm nên con chạy vô phụ thầy bắt ăn trộm.” Bằng chứng sờ sờ trước mắt nên không thể nào chối cãi, chư huynh đệ pháp lữ trong chúng ai cũng thấy thầy tay thộp cổ áo sư huynh mà la “ăn trộm, ăn trộm”.
Cho nên, vị đệ tử lớn liền bị khai trừ ra khỏi chùa ngay tức khắc mà không hề được minh oan. Trục xuất xong vị thầy còn viết giấy truyền cho các chùa khác không được chứa chấp thầy ấy vì tội ăn trộm đồ của Tam bảo. Vị đệ tử này xưa nay được Tăng chúng tín nhiệm chức thượng thủ trong chùa, chú còn là người mô phạm dạy dỗ chúng Tăng. Đột nhiên bữa nay lại bị mang danh tên ăn trộm và bị đích thân thầy mình viết giấy khai trừ khỏi Tăng chúng một cách công khai, thử hỏi ai nằm trong hoàn cảnh ấy mà không đau khổ.
Chỉ trong thoáng chốc bao nhiêu tiếng xấu đổ dồn vào vị sư huynh và bị mọi người khinh chê, coi thường, ai rơi vào hoàn cảnh này mới thấy thật tội nghiệp cho vị sư huynh ấy. Đường đường cũng là một vị Tăng tướng dung mạo trang nghiêm mà giờ đây chịu nuốt lệ đau thương ngậm ngùi, cay đắng trước một sự thật không thể ngờ.
Bị thầy hủy nhục như vậy trước mặt đồ chúng nên bao nhiêu uy tín từ xưa đến nay bỗng phút chốc tan tành theo mây khói. Vậy mà chú đệ tử ấy không hề buồn giận, trách móc hay thể hiện một nét mặt nào tỏ thái độ oán ghét vị thầy.
Chú vẫn một lòng cung kính và tôn trọng thưa: “Xin thầy hãy từ bi cho con ngủ đỡ ngoài cổng Tam quan cũng được, để mỗi ngày con còn được học hỏi và phụ giúp chúng Tăng làm việc”. Ấy vậy mà vị thầy cũng không chịu buông tha nên nói rằng nếu ở đó thì phải chịu trả tiền ngủ nhờ.
Dù bị thầy hủy nhục, hành hạ, làm khó dễ đủ điều nhưng chú vẫn một lòng tôn kính thầy mà siêng năng gia trì tinh tấn tu hành.Thời gian như vậy kéo dài gần 3 tháng, chú vẫn một lòng tín tâm, không một lời than vãn hay trách móc điều gì.
Cuối cùng, vị cao Tăng cũng tìm ra được bậc chân truyền, hôm đó ông đã chính thức tuyên bố trước đại chúng: “Ta bây giờ đã tìm được người kế thừa, mong đại chúng sau này khi ta viên tịch rồi thì hãy nghe theo lời chỉ dạy của sư huynh các người.” Nói xong ông thầy từ giã đại chúng rồi an nhiên ra đi.
Trong lịch sử nhân loại từ xưa nay biết bao nhiêu bậc vĩ nhân, hiền Thánh vẫn thường bị vu oan giá họa nhưng các ngài vẫn bình tĩnh, an nhiên chứng minh cho đời sự trong sạch của mình bằng chất liệu của từ bi, vô ngã, vị tha. Vị đệ tử đó nếu không gặp hoàn cảnh khắc nghiệt như thế thì vị cao Tăng làm sao biết được đệ tử của mình đã vượt qua Tám gió thật sự và để tất cả đại chúng có đủ niềm tin mà nương tựa học hỏi, tu hành.
Nếu gặp thầy nào còn quá yếu thì khi bị vu oan giá họa như vậy chắc có lẽ sẽ hận vị thầy của mình suốt cả đời.Nhờ thử thách đó mà vị thầy biết rõ đệ tử của mình đã qua được Tám gió được-mất, khen-chê, danh thơm-tiếng xấu và khổ-vui. Nghịch cảnh hay chướng duyên đối với người trí chỉ là thử thách nên họ vẫn bình thản, an nhiên khi bị hủy nhục sai sự thật trước mặt mọi người.
Giả sử như lúc đó tôi đang ở trong hoàn cảnh này thì có lẽ tôi sẽ đùng đùng nỗi giận mà oán ghét ông thầy của mình rồi bỏ đi không một lời từ giã. Tám gió thổi chẳng động là thước đo để kiểm nghiệm người tu hành chân chánh, nếu ta không trải qua những hoàn cảnh đau thương, nghiệt ngã như thế thì làm sao ta biết mình có bị gió thổi hay không.

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Tương quan giữa cho và nhận

Tương quan giữa cho và nhận

Đăng lúc: 20:10 - 10/06/2015

Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại giảng đường có nóc nhọn.



Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến trú xứ của gia chủ Ugga, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Gia chủ Ugga đi đến đảnh lễ, ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý thì nhận được điều khả ý”. Vì thế, con có nấu cháo từ hoa cây sàla và rất nhiều loại món ăn thật là khả ý; con có nhiều loại vải dệt từ Kàsi thật là khả ý. Mong Thế Tôn hãy nhận lấy vì lòng từ ái đối với chúng con.

Thế Tôn nhận lời và nói với Ugga bài kệ tùy hỷ này: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý, đối với bậc Chánh trực, vui lòng đem bố thí, vải mặc và giường nằm, ăn uống các vật dụng, biết được bậc La hán, được ví là phước điền, nên các bậc Chân nhân, thí những vật khó thí, được từ bỏ giải thoát, không làm tâm đắm trước, người thí vật khả ý, nhận được điều khả ý”.

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 5, phẩm Vua Munda,
phần Cho các vật khả ý, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.382)
LỜI BÀN:

Cho người thực ra đó là cho mình là một nhận thức quen thuộc của những người con Phật. Vì thế, ngoài tấm lòng từ bi bao dung, độ lượng đối với tha nhân, người Phật tử thực hành bố thí với mục đích nhằm vun bồi phước báo cho chính mình.

Thi ân, sẵn sàng cho đi mà không cầu đền đáp là một phạm trù vốn rất xa lạ và khó làm đối với những người vị kỷ, keo kiệt. Càng khó khăn hơn đối với họ khi phải cho những vật khả ý, tức những vật mà mình yêu thích. Đa phần, những đồ vật đem cho thường là những vật thừa thãi, vô dụng nhưng “xả” được như vậy đối với họ cũng là quý hóa lắm rồi.

Người Phật tử thì không như vậy, cho người là một nhiệm vụ, một nghĩa cử thiêng liêng. Vì thế, họ sẵn sàng ban tặng những gì mà chúng sanh cần, kể cả những vật khả ý thậm chí dâng hiến cả thân mạng vốn là một tài sản bất khả xâm phạm. Cho những gì mình thích, mình trân quý mới thực sự là cách cho trọn vẹn và khó làm nhất.

Để đạt được cách cho cao cả như vậy không phải người nào cũng làm được mà phải có trí tuệ, thấu hiểu bản chất của cuộc đời là vô thường và vô ngã. Chính tuệ giác vô ngã đã soi sáng cho hành động bố thí thông thường tiến dần đến Bố thí Ba la mật, một sự ban tặng mà vô cầu, vô điều kiện và vô phân biệt.

Tuy vô cầu, vô điều kiện và vô phân biệt trong khi cho nhưng phước báo của người cho vẫn tròn đủ. Nhân quả trong bố thí rất bình đẳng và đạt đến đỉnh cao nếu người tu tập bố thí đạt đến trình độ Bố thí Ba la mật. Vì vậy, hãy cho tất cả để có được tất cả là lý tưởng, phương châm sống của người con Phật.

Quảng Tánh

Nếu chỉ còn một ngày để sống?

Nếu chỉ còn một ngày để sống?

Đăng lúc: 19:45 - 09/06/2015

Tôi không biết bạn là ai? Bạn sống như thế nào?… Nhưng tôi biết chắc một điều rằng rồi một ngày nào đó bạn sẽ phải chết. Bạn biết thần chết chứ? Ông ấy là một người thực thi bình đẳng vĩ đại nhất và là người san bằng mọi bất công trong xã hội. Không thiên vị một ai, dù giàu sang hay nghèo hèn ông ấy đều cần mẫn gõ cửa từng nhà.
Một hơi thở ra mà không vào là ngàn thu vĩnh biệt. Cuộc đời này mong manh dễ vỡ là thế, những người con Phật ai cũng hình dung, cũng biết. Vậy có bao giờ bạn tự đặt ra câu hỏi “Nếu chỉ còn một ngày để sống mình sẽ làm gì?”.

Gia đình là nơi bạn được sinh ra, là nơi bạn lớn lên, nơi của những yêu thương được chắp cánh. Ba, mẹ, anh, chị, em luôn dang rộng vòng tay che chở, yêu thương, luôn chào đón bạn trở về dù bạn có thành công hay sa cơ lỡ nghiệp đi chăng nữa thì những vòng tay ấy không bao giờ mỏi mệt. Vậy thử hỏi có bao giờ bạn nói rằng bạn yêu ba mẹ anh chị em của mình chưa? Bạn đã bao giờ nói lời cảm ơn chân thành, sâu thẳm từ tận đáy lòng chưa? Một ngày cuối của cuộc đời có đủ để bạn sà vào vòng tay ấm áp của cha mẹ và nói rằng con yêu gia đình nhiều lắm. Một ngày cuối có đủ để bạn đích thân vào bếp nấu cho cha mẹ một bữa cơm không?
Trong nhịp sống hối hả này, bạn không đủ hoặc không muốn đủ thời gian để ngồi ăn cùng gia đình một bữa cơm. Vậy ngày cuối này bạn có thể dành chút thời gian ngồi vào bàn ăn cùng cha bàn vài ba câu chuyện thời sự, cùng mẹ nói chuyện giá cả; cùng anh nói về mẩu xe mới, cùng chị bàn về chiếc điện thoại đa năng; hỏi đứa em dạo này học hành ra sao, ngồi lại nhìn những gương mặt thân quen. Ôi tuyệt vời biết bao! Bạn có đủ thời gian để thay mẹ đóng cổng nhà lúc chiều tối, kéo chăn cao hơn cho cha mẹ ấm nồng, tắt bớt đèn, mở quạt số nhỏ cho đứa em bớt lạnh không? Có thể trong cuộc sống thường nhật bạn không đủ thời gian để nhận ra điều đó, nhưng ngày cuối đời hãy sống chậm lại trước khi tất cả là quá muộn.
Nhịp sống hối hả quá nhiều ồn ào đã vô tình cuốn bạn vào cơn xoáy của cơm áo gạo tiền; hay những cuộc vui thâu đêm suốt sáng và bạn cho rằng đó là mục đích mà cuộc đời bạn hướng tới. Bạn phải làm việc, thậm chí bạn không có đủ thời gian để đội chiếc mũ bảo hiểm, không có đủ vài giây để dừng lại trước đèn đỏ, không đủ thời gian ngả mũ trước đám tang, hay thậm chí là nhếch môi cười chúc mừng cho một đám cưới, hoặc là một cái nhìn cảm thông cho những thân phận nghèo khổ bên đường. Dăm ba ngàn không đủ cho bạn uống một ly cà-phê, thế nhưng đó là cả một nguồn sống, hãy cho đi để nhận lại lời cảm ơn chân thành nhất, hãy cho đi để nhận lại nụ cười đầy hy vọng, dù nụ cười đó không đủ sức xóa tan đi băng giá trong lòng bạn, nhưng phần nào có thể làm ấm con tim đã nguội hẳn của bạn.
Bạn nói rằng bạn bận. Bận đến nỗi không có đủ thời gian để nhìn những tia nắng ban mai. Bận lắm, bận đến nỗi bạn không biết cuộc đời này đẹp đến mức nào. Vậy nếu chỉ còn một ngày để sống bạn có đủ thời gian để sống chậm lại không, hãy quan sát và chắc chắn một điều rằng bạn sẽ nhận ra cuộc đời này quá đẹp với những chiếc lá xanh trên cành, tiếng lũ trẻ gọi nhau lúc tan trường,…

Bạn bận rộn nên không đủ thời gian để nói cảm ơn, xin lỗi. Nếu chỉ còn một ngày để sống chắc bạn có đủ thời gian nhỉ, cảm ơn cha mẹ đã mang ta đến cuộc đời này, cảm ơn anh chị em, cảm ơn bạn bè đã ở bên ta lúc ta vấp ngã, cảm ơn cuộc đời, cảm ơn mọi người.

Tôi tin chắc không ai ích kỷ đến nỗi không tha thứ cho kẻ thành thật xin lỗi, biết hướng thiện. Vậy tại sao bạn không xin lỗi khi mình mắc sai lầm, sĩ diện ư nếu chỉ còn một ngày để sống.

Nếu chỉ còn một ngày để sống, bạn thử lắng nghe tiếng chuông chùa vang lên lúc chiều tà hay cùng quý thầy đọc bài kinh cầu nguyện. Khẽ dạo những bước chân nhẹ nhàng chậm rãi, hít một hơi thở thật sâu trong bầu không khí an lành của mái chùa nghèo, hít thật căng phổi bạn nhé, và bạn sẽ yêu nơi này, sẽ cảm thấy tâm hồn thanh thản.
Nếu chỉ còn một ngày để sống! Một ngày thì quá ngắn so với một kiếp người, nhưng nếu bạn sống thật tốt thì một ngày là quá đủ để cho bạn làm tất cả. Nhưng may mắn thay bạn không chỉ còn một ngày mà bạn có nhiều ngày, thậm chí còn nhiều năm để sống. Vậy tại sao bạn không sống cho thật trọn vẹn, sống chậm, sống yêu thương nhiều hơn để rồi sau này sẽ chẳng bao giờ nói giá như bạn có thêm một ngày để sống.

Cuộc đời này không biết lúc nào sẽ là dấu chấm hết. Vậy nên hãy sống thật chậm, hãy cười thật tươi và hãy tha thứ nếu có thể. Hãy sống ngày hôm nay cho thật trọn vẹn bạn nhé.

Nhuận Sơn

Ý nghĩa chắp tay

Ý nghĩa chắp tay

Đăng lúc: 19:35 - 09/06/2015

Trong thiền môn, chắp tay là vấn đề phổ thông để tỏ lòng tôn kính Tam Bảo, cũng như xá chào nhau trong chốn Già Lam.



Ở một số nước Á Đông, phong tục chắp tay chào nhau ở mọi nơi là một nếp văn hóa ứng xử khá độc đáo. Còn trong nhà Phật chắp tay mang nhiều ý nghĩa.

Sau đây là 16 ý nghĩa của chắp tay:

1. Hai bàn tay khép lại biểu thị cho hòa bình, hữu nghị, đoàn kết và hợp tác, không tranh đấu và không làm tổn thương người khác.

2. Khoảng trống giữa hai lòng bàn tay biểu thị lý chân không, ý nghĩa là chúng ta phải ngộ nhập tính Không của vạn pháp.

3. Hai lòng bàn tay khép lại với nhau biểu thị hai tay chấm dứt vọng động, không còn phan duyên, không còn tạo nghiệp vì tham, sân, si.

4. Mu bàn tay hướng ra ngoài biểu thị ngoại cảnh lục trần, lòng bàn tay hướng vào trong biểu thị giác tâm bồ đề, vì vậy chắp tay còn có ý nghĩa là đi ngược cảnh trần, tìm về giác tâm.

5. Tay phải, tay trái là do vọng tưởng, chấp trước mà có. Kỳ thực phải hay trái đều là giả danh, đều là hư vọng. Chắp hai tay làm một, không còn có phải trái, rời tướng phân biệt, bình đẳng nhất như.

6. Mười ngón tay khép lại với nhau biểu thị mười pháp giới quy về nhất tâm, tất cả đều do tâm tạo, tất cả đều từ tâm mà biến hiện ra.

7. Mười ngón tay biểu thị mười phương, chắp lại trước ngực, có nghĩa là chúng sanh trong mười phương đều bình đẳng, cũng có nghĩa là nhiếp thủ chúng sanh trong mười phương quy hướng Phật đạo. Mười ngón tay còn biểu thị cõi Phật trong mười phương, chắp lại trước ngực, có nghĩa là cúng dường chư Phật, Bồ-tát trong mười phương bằng tâm cung kính, cũng có nghĩa là nhiếp thủ công đức của cõi Phật trong mười phương để trang nghiêm tự tâm, thành tựu căn lành.

8. Phật tử gặp nhau chắp tay niệm “A Di Đà Phật” chính là quy hướng biển nguyện nhất thừa của đức Di Đà, bất thoái thành Phật. Cũng biểu thị cõi Phật mười phương cùng xưng tán A Di Đà Phật, cùng tuyên dương pháp môn Tịnh Độ.

9. Mười ngón tay chắp lại trước ngực biểu thị chúng ta phải tu mười ba-la-mật mới có thể thành Phật. Ngoài ra, mười huyền môn Hoa Nghiêm hay mười nguyện vương Phổ Hiền đều biểu thị sự viên mãn; cho nên, mười ngón tay chắp lại chính là biểu thị khả năng viên thành Phật quả.

10. Tay trái thường tĩnh, biểu thị “thông hiểu”; tay phải thường động, biểu thị “thực hành”; hai tay chắp lại biểu thị hiểu và hành hợp nhất, có như vậy mới thành tựu được vô thượng bồ đề.

11. Tay trái thường tĩnh, biểu thị “tự giác” (tự mình giác ngộ); tay phải thường động, biểu thị “giác tha” (giúp cho người khác giác ngộ); hai tay chắp lại biểu thị kết hợp tự giác với giác tha, có như vậy mới là hành giả Bồ-tát, có như vậy mới được giác hạnh viên mãn.

12. Tay trái biểu thị nguyện, tay phải biểu thị hạnh, hai tay chắp lại biểu thị nguyện và hạnh hợp nhất, lấy nguyện để khởi hạnh, lấy hạnh để chứng nguyện, có như vậy đại nguyện mới viên thành.

13. Hai tay chắp lại biểu thị các pháp bình đẳng, không phân cao thấp. Thiền tịnh không hai, tịnh mật chẳng khác, tuy phương pháp bất đồng, nhưng bản chất giống nhau, cùng chung một mục đích.

14. Hai tay trái phải hợp thành một thể biểu thị lý “không hai”. Phiền não và bồ đề không hai, tự hành và hóa tha không hai, tự Phật và tha Phật không hai, tánh và tướng không hai…

15. Chắp tay chính giữa ngực biểu thị lý trung đạo, không chấp vào hai bên như: thường hay đoạn, không hay có.

16. Hai tay chắp lại giống như nụ hoa chưa nở, biểu thị nhân địa tu hành. Khi hoa nở cũng là lúc thành tựu bồ đề.

 
Hạnh nguyện cấp cô độc
Gia đình vườn tuệ
Thống kê
  • Đang truy cập 54
  • Hôm nay 3,689
  • Tháng hiện tại 56,874
  • Tổng lượt truy cập 10,031,825